Thứ Bảy, 24 tháng 8, 2013

KIM TÁNG - MỘT PHONG TỤC CHÔN CẤT CỦA NGƯỜI TÂY TẠNG

Một trong những phong tục lạ lùng, mang nhiều màu sắc Tây Tạng nhất là tục chôn cất người chết. Ở Tây Tạng, vì lí do địa hình: đất núi cằn cỗi và lớp đất mềm phủ trên đá cứng quá mỏng nên không thể chôn cất người chết theo kiểu địa táng như nhiều nơi trên thế giới vẫn làm. Người ta cũng không dùng phương pháp hỏa táng vì cây gỗ ở đây rất hiếm và rất đắt. Muốn có đủ gỗ, người ta phải nhập từ Ấn Độ, và việc này đối với đại đa số người dân Tây Tạng là vượt quá khả năng kinh tế của họ. Họ cũng không thể dùng phương pháp thủy táng như các dân tộc ở các hòn đảo Nam Thái Bình Dương, vì Tây Tạng là xứ sở ở sâu trong lục địa, không có hải phận như các nước khác. Chỉ còn một cách là huyền táng, tức là treo quan tài lên trên những vùng núi cao, và điểu táng là cho các loài chim kên kên ăn thịt xác chết.

Cách chôn theo kiểu “điểu táng” là phổ biến nhất, được mô tả lại trong nhiều tác phẩm của các nhà thám hiểm.


Còn có một cách “chôn người” khác, rất đặc biệt và rất huyền bí mà ít có người biết đến, đó là kim táng, tức là một kiểu mạ vàng lên xác chết. Khác với kiểu “điểu táng” dành cho những thường dân và những người không có chức vụ quan trọng trong giáo đoàn Tây Tạng, kim táng là một kiểu chôn đặc biệt dành cho các vị Lạt Ma trưởng, tức là những đấng hóa thân, theo quan niệm tôn giáo của người Tây Tạng. Một quan niệm ảnh hưởng từ Phật giáo, vàng tượng trưng cho những gì tôn quý nhất (có thể liên tưởng đến những từ Phật giáo như kim ngôn, kim thần, kim khẩu, kim tạng). Kim tạng tức là kho vàng dùng để chỉ Phật tánh, vì thế, khi các vị Lạt Ma trưởng, những người đã luyện cho tâm hồn của mình thành một thứ “vàng”, mất đi, tức là linh thể đã rời bỏ xác thể, thì có thể phục hồi lại linh thể này bằng cách mạ một lớp vàng lên xác chết. Trong trường hợp này, vàng không chỉ có chức năng bảo vệ cho thể xác được trường tồn, mà còn có một ý nghĩa tượng trưng về mặt tinh thần, chỉ sự bất hư hoại của linh hồn.


Kĩ thuật mạ vàng xác chết của người Tây Tạng rất đặc biệt và đến nay nó vẫn còn là một bí ẩn. Theo lời thuật lại của Lobsang Rampa, một vị Lạt Ma Tây Tạng đã từng tận mắt chứng kiến và tham gia vào việc kim táng này, thì quá trình chôn cất đặc biệt có thể chia làm 3 giai đoạn như sau:

Giai đọan thứ nhất: Khi một vị Lạt Ma trưởng từ giã cõi trần để bước qua cõi tinh thần thì thi hài của vị này được ướp bằng một thứ hương liệu đặc biệt có tác dụng tẩy hết các mùi ô uế của tử thi và giữ xác trong một thời gian dài (Tây Tạng cũng là một xứ nổi tiếng về hương liệu đã từng xuất khẩu xạ hương sang các nước láng giềng như Ấn Độ, Trung Quốc). Nếu thi hài của các vị này không được đặt trong một cái hòm thủy tinh để trưng bày trong các đền thờ thì sẽ được đem đi mạ vàng và để ở một nơi rất bí mật, sâu tận trong lòng đất.


Sau khi làm lễ long trọng trong thánh thất của tu viện, thi hài của vị Lạt Ma trưởng được để ngồi theo tư thế kiết già và đưa xuống dưới lòng đất sâu theo một đường hầm bí mật ít người biết đến, xuyên qua một cánh cửa ít khi dùng. Mãi một lúc thật lâu, thi hài mới được đưa tới một gian phòng lạnh lẽo, và ở đây thi hài được tắm rửa sạch sẽ, tất cả lục phủ ngũ tạng được lấy ra cho vào một cái vại riêng và niềm chặt lại. Phần thân thể, trong mình, được rửa thật kĩ lưỡng, để khô ráo, người ta sẽ đổ vào đấy một thứ nhựa thật đặc biệt. Thứ nhựa này có tác dụng chống lại sự thối rữa của thể xác và giữ cho thi hài có vẻ tự nhiên như khi còn sống. Sau đó người ta nhồi thêm vào các đồ tơ lụa và luôn giữ cho thể xác có hình dáng thật giống như khi còn sống. Người ta lại đổ thêm chất nhựa vào, một thời gian sau, thứ nhựa này sẽ đông đặc lại và như thế là thi hài đã giữ đúng dáng vẻ khi còn sống, không bị tóp khô lại vì mất hết nước, như đối với các thi hài ướp theo kiểu thông thường khác. Tử thi được tiếp tục phết lên một lớp nước thuốc đặc biệt, rồi được bó lại bằng những băng lụa rất mịn.


Giai đọan thứ hai: Khi tử thi đã hoàn toàn khô ráo và trở nên cứng rắn, người ta mang tử thi vào một phòng khác, gọi là phòng ướp xác. Thật ra phòng này là một cái hỏa lò dùng để nung (chứ không phải đốt) thi hài ở nhiệt độ cao. Tử thi được đặt ngồi giữa hỏa lò. Người ta nhồi vào lò một thứ tạp chất gồm muối, các loại dược thảo và khoáng chất, sau đó lửa được đốt lên và cháy suốt một tuần lễ. Đến cuối ngày thứ bảy, không đốt thêm lửa nữa và đến ngày thứ 11, nhiệt độ trong phòng trở lại bình thường. Các nhà sư thay nhau cạo sạch chất bột đã đặc cứng. Khi các tảng muối và các tạp chất giòn tan khác đã được gỡ xong, thi hài hiện ra và vẫn ngồi chính giữa theo tư thế liên hoa, Người ta cẩn thận nhấc xác lên, đem trở lại căn phòng thứ nhất và bắt đầu giai đoạn thứ ba.


Giai đoạn thứ ba: Lúc này các băng lụa bao bọc thi hài được gỡ ra và lại được phết thêm một lớp nhựa mới. Trông cái xác giống như một người đang ngồi trong tư thế thiền và có thể mở mắt ra, hoặc đứng dậy bất cứ lúc nào. Công việc quan trọng nhất trong giai đọan này là mạ vàng được bắt đầu. Để làm việc này, cần phải nhờ đến các nhà sư chuyên môn, có tay nghề. Với một kĩ thuật có tính bí truyền, các nhà sư này từ từ phết lên tử thi nhiều lớp vàng tinh lọc, mịn màng và tinh nhuyễn nhất. Họ làm việc rất tỉ mỉ, chăm chú, không bỏ sót một chi tiết nhỏ nào. Nhìn họ làm việc, người ta có cảm giác đây là những người thợ đặc biệt được phái tới từ một cõi huyền bí nào đó, với nhiệm vụ rất ít người có thể làm được là mạ vàng một xác chết.


Khi công việc được hoàn thành, xác chết đã trở thành một hình tượng bằng vàng trông thật sống động, không có vẻ gì là một xác chết. Kĩ thuật ướp xác và mạ vàng tử thi của người Tây Tạng đã đạt đến trình độ siêu đẳng, vượt qua cả kĩ thuật của người Ai Cập. Cuối cùng, xác ướp được đưa đến một cái phòng đặc biệt gọi là phòng các Đấng hóa thân và đặt trên một chiếc ngai cũng bằng vàng. Theo tiết lộ của vị Lạt Ma Lobsng Rampa, hiện có 98 xác ướp mạ vàng ở phòng các Đấng hóa thân, nhiều xác đã tồn tại từ thời kì tiền sử của nhân loại. Giống như những hình người bằng sáp trong Viện bảo tàng ở Luân Đôn, những xác ướp này ngồi sắp hàng như những vị thẩm phán nghiêm minh và xuyên qua những đôi mắt hé mở, có vẻ như họ đang quan sát như sa đọa và tội lỗi của con người thời hiện đại.


Có thể nói rằng toàn bộ lịch sử bí ẩn của Tây Tạng gắn liền với các xác ướp có một không hai trên....


Theo VN Thư Quán
http://thuvienaudio.net/main/viewtopic.php?p=10437#p10437

Giải mã “nghĩa địa tàu cổ”

Vì sao bãi biển thôn Châu Thuận Biển được mệnh danh “nghĩa địa tàu cổ”? Vì sao những con tàu được tìm thấy đều có vết cháy nham nhở…? Câu trả lời đã dần hé lộ sau khi con tàu thứ 4 được tìm thấy

Chỉ trong 2 tháng qua, tại bãi biển thôn Châu Thuận Biển, xã Bình Châu, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, 3 chiếc tàu có niên đại từ 400-700 năm đã được phát hiện.

Vớt cổ vật từ một con tàu bị đắm ở thôn Châu Thuận Biển, xã Bình Châu, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi
Có thể còn nhiều tàu cổ
Ngày trước, do thôn Châu Thuận khá rộng nên chính quyền địa phương mới tách ra làm 2 thôn là Châu Thuận Biển và Châu Thuận Nông, dựa vào đặc tính nghề nghiệp của người dân nơi đây.
Xung quanh thôn Châu Thuận Biển được bao bọc bởi những cánh đồng cát mênh mông. Một phía tiếp giáp với vùng phố cổ Thu Xà (huyện Tư Nghĩa), còn phía kia tiếp giáp biển. Ở giữa thôn bị biển khoét sâu vào bên trong nên từ lâu, người ta đã gọi nơi đây là eo biển Vũng Tàu. Một điểm riêng ở bờ biển thôn Châu Thuận Biển là có độ dốc khá lớn, giống như bờ vực nên nhiều tàu thuyền vào đây neo đậu mà không sợ mắc cạn. Theo những người cao niên ở địa phương, vì độ dốc lớn nên từ xa xưa, eo biển Vũng Tàu đã đón rất nhiều tàu thuyền vào neo đậu, tránh gió bão. Ðến bây giờ, cứ mỗi lần biển động, ngư dân xã Bình Châu cũng đưa tàu thuyền vào đây lưu trú.
Sau khi phát hiện thêm chiếc tàu cổ thứ 2 (ngày 16-8), chiều 19-8, chúng tôi tìm đến nhà ông Trương Ð., người được mệnh danh là "vua cổ vật" ở xã Bình Châu. Căn nhà cấp 4 trưng bày đầy chén, đĩa, lọ hoa và những đồ gốm sứ do ông Ð. sưu tập được trong cả chục năm nhặt nhạnh ở biển. Ông khẳng định những cổ vật này do chính ông sưu tầm chứ không phải lấy từ con tàu cổ vừa rồi.
Sau đó, ông Ð. đưa chúng tôi xem một chiếc đĩa có đường kính 25 cm, tráng men xanh, in hình hoa lá bên trong và cho biết đây là đồ gốm Chu Ðậu, khoảng cuối thế kỷ XIV. "Tôi tìm thấy nó cách đây gần 10 năm, trong 1 lần lặn biển. Ðồ gốm sứ kiểu này, rất nhiều người dân làng chài ở các xã Châu Tân, Châu Me, An Hải của huyện Lý Sơn… có được nhiều mảnh vỡ, ai may mắn thì sở hữu nguyên vẹn" - ông Ð. cho biết.
Theo ông Ð., dấu tích về những con tàu cổ bị đắm ở eo biển Vũng Tàu rất nhiều vì người dân phát hiện những mảnh vỡ cổ vật tại nhiều địa điểm khác nhau và loại gốm, hoa văn cũng khác.
"Nếu tính từ trước tới nay, đây là con tàu thứ 6 được phát hiện. Năm 1990, chính tôi là người phát hiện ra những mảnh gốm sứ bị vỡ từ con tàu Châu Tân (cách con tàu vừa được phát hiện khoảng 1 km). Sau đó, bà con làng chài đổ xô khai thác cổ vật bên trong nhưng phần lớn bị bể. Năm 1999, cách tàu Châu Tân không xa, người dân tiếp tục phát hiện gốm sứ từ một con tàu khác và tổ chức trục vớt, gọi đây là tàu Châu Tân 2. Ðến năm 2000, con tàu thứ 3 được tìm thấy ở Ghềnh Ráng (thuộc xóm Gành Cả bây giờ, cách con tàu mới được phát hiện khoảng 1,5 km). Hiện vật được tìm thấy trong con tàu gồm nhiều đồ gia dụng bằng đất nung, gốm…" - ông Ð. nói.
Trong khi cuộc trò chuyện của chúng tôi với ông Ð. hôm 19-8 chưa dứt, khu vực bờ biển thôn Châu Thuận Biển lại dậy sóng bởi người dân phát hiện thêm một xác tàu cổ khác. "Nhiều người dân ở đây đã biết con tàu này khoảng 3-4 năm trước. Hồi đó, vì thấy cổ vật bị bể nhiều lại có niên đại muộn (khoảng thế kỷ 18) nên không ai khai thác… Còn nhiều con tàu khác nằm dưới lớp cát của bờ biển ở thôn này" - ông Ð. quả quyết.
Theo TS Ðoàn Ngọc Khôi, Phó Giám đốc Bảo tàng Quảng Ngãi, ngoài những con tàu người dân tìm thấy, vào năm 1999, ngành khảo cổ của tỉnh đã khai quật tại bờ biển thôn Châu Thuận Biển 1 con tàu khác có nhiều đồ gốm sứ ở thế kỷ XVII.
Nằm trên con đường gốm sứ
Tiến sĩ Ðoàn Ngọc Khôi nhận định từ việc tìm thấy nhiều con tàu liên tiếp, có thể khẳng định vùng biển Châu Thuận ngày xưa là nơi neo trú tàu thuyền mỗi khi gặp gió bão. "Hàng trăm năm trước, trên con đường thông thương dọc theo bờ biển miền Trung, những con tàu của các thương gia phương Bắc hành trình trên biển Ðông, mỗi khi gặp bão thì thường ghé vào eo biển Vũng Tàu ở đây để neo đậu, mua bán, tiếp tế lương thực… rồi tiếp tục hành trình về phương Nam. Ðiều này chứng minh eo biển Vũng Tàu ngày xưa là một điểm trung chuyển trên con đường gốm sứ, tơ lụa. Thời đó, chỉ đi lại bằng thuyền buồm nên khi gặp thời tiết xấu, các con tàu phải vào nơi khuất để gió tránh bão rồi xảy ra cháy, chìm tàu… Ðiều này cũng lý giải vì sao mỗi con tàu tìm thấy thường bị cháy. Một khả năng khác cũng dẫn đến cháy tàu là bị cướp biển tấn công hoặc cư dân bản địa đốt…" - TS Khôi nhận định.
Theo TS Nguyễn Việt, Giám đốc Trung tâm Tiền sử Ðông Nam Á, Quảng Ngãi nằm trên "con đường gốm sứ" từ phương Ðông sang phương Tây. "Con đường gốm sứ" dựa trên cơ sở phát hiện 5 tàu cổ chở gốm sứ ở các vùng biển Việt Nam được khai quật trước đó. Cụ thể, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam đã khai quật tàu đắm ở Hòn Cau (Bà Rịa - Vũng Tàu) vào năm 1990, Hòn Dầm (Kiên Giang) vào năm 1991, Cù Lao Chàm (Quảng Nam, vừa mới hoàn thành năm 2012), Cà Mau và Bình Thuận (2001). Các con tàu này chở gốm sứ từ thế kỷ XIII-XVIII và có nhiều nguồn gốc khác nhau. "Với việc phát hiện ra hàng loạt con tàu cổ bị đắm chứng tỏ Quảng Ngãi cũng nằm trên "con đường gốm sứ" ngày xưa và là một điểm tiếp tế lương thực, nước uống của các tàu thuyền" - ông Việt đánh giá.
Dùng thợ lặn khai quật tàu cổ
Sau khi 2 con tàu cổ vật được người dân liên tiếp tìm thấy (ngày 16 và 19-8), ngày 22-8, ông Nguyễn Ðăng Vũ, Giám đốc Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Ngãi, cho biết do phải khai quật 2 con tàu này trước mùa mưa bão nên không thực hiện bằng hình thức dựng kè chắn sóng xung quanh rồi hút cạn nước như đã làm với con tàu vừa được khai quật hồi tháng 6. "Chúng tôi sử dụng thợ lặn để khai quật, lấy cổ vật trong tàu bị đắm vì ít tốn kinh phí hơn. Dự kiến, việc khai quật sẽ được thực hiện vào tháng 9 tới" - ông Vũ nói.
Bài và ảnh: TỬ TRỰC

Thứ Sáu, 23 tháng 8, 2013

NSND BẠCH TUYẾT


NSND Bạch Buyết NSND Bạch Tuyết

Bạch Tuyết tên thật là Nguyễn Thị Bạch Tuyết. Sinh ngày 24/12/1945 Là tiến sĩ cải lương đầu tiên của Việt Nam, chị xem cải lương rất thiêng liêng, là nhân dạng của dân tộc.
Trong một chuyến về Tân Châu - An Giang cứu trợ, nhìn những em bé chân trần đen đũi đang chạy dọc hai bên bờ kinh, cố đuổi theo chiếc xuồng có chở NSƯT Bạch Tuyết, chính cô hồn nhiên cười bảo: "- Mình cũng đã lớn lên từ một tuổi thơ như thế ! Ừ nhỉ ! Có ai biết trước được rằng, trong đám trẻ lêu nghêu ấy lại là một nghệ sĩ hay là một nhân vật nào đó của sau này?"
Một tuổi thơ có đầy đủ sự tinh nghịch, suốt ngày đùa giỡn với nắng gió, với hương vị phù sa ngọt lịm từ dòng sông Chín khúc, ban đêm ngon giấc trong tiếng ầu ơ của mẹ. Để từ đó rót đầy tâm hồn, ấp ủ giọng ca mà thành hình một chân dung nghệ thuật: NSƯT -Tiến sĩ Bạch Tuyết.
Tiếng ru hời đã đứt quãng vào một ngày của tết 1955. Biến cố đầu tiên và cũng là biến cố lớn nhất trong đời của Bạch Tuyết là sự ra đi quá sớm và bất ngờ của người mẹ trong một tai nạn giao thông. Mồng 7 Tết, hai chị em tất tả chạy vào nhà thương. Màu trắng của những tấm dra, của những chiếc áo blouse và cả không khí lạnh lẽo của bệnh viện trong những ngày Tết. Chỉ duy nhất, ánh mắt của người mẹ là màu đen thăm thẳm, nấn níu nhìn hai đứa con thơ lần cuối, chỉ kịp dặn lại mấy câu: "- Con ráng sống làm sao để người ta đừng mắng là đồ không cha không mẹ !". Lời dặn dò ngắn ngủi trong sự mong manh giữa bờ sống - chết ấy lại trở thành cái Đạo lý của cả một đời người mà Bạch Tuyết và người chị gái của mình theo đuổi. Những bước đường chông chênh, gập ghềnh chính là chất xúc tác để người con vươn lên đạt thấu hai chữ Thành Danh và giữ trọn hai tiếng Thành Nhân trước vong linh của người mẹ và nỗi canh cánh của người cha đã bước thêm bước nữa.
Được cha đưa vào học trường nội trú Saint -Esprit cũng là môi trường rèn luyện con người đi vào mọi khuôn khổ nề nếp từ đi đứng, lời ăn tiếng nói, nữ công gia chánh cho đến những đỏan khúc Thánh ca cứ gieo vào tâm hồn, chắp cánh cho một tình yêu nghệ thuật đã nhú mầm. Ở trường, với làn da không đủ trắng nhưng cô học trò nhỏ Nguyễn Thị Bạch Tuyết lại luôn được các soeur, các thầy cô chọn làm Thiên thần bởi nhờ giọng ca vun vút.
Và có lẽ, đôi cánh thiên thần đã không đưa Bạch Tuyết đến với nghề Luật sư như cô hằng mơ ước mà vô tình đáp xuống dòng sông nghệ thuật. Lạ một điều, dòng sông ấy dù mênh mang, bát ngát lại luôn chảy ngược dòng để tìm về cội nguồn của xứ sở, quê hương. Ngay cả khi đã dám giấu cha, lẻn theo người chú để đi hát show ca nhạc, rồi bị bắt gặp, bị cấm đóan, rồi đưa trở lại trường nhưng chỉ cần một nhạc sĩ rao lên mấy ngón đờn tranh là Bạch Tuyết cứ thế mà ca Bắc Nam, xuống vọng cổ ngọt ngào, không hề trật nhịp.
Một thóang " hòai nghi": nghệ thuật ca - kịch cải lương đã chọn đúng tên cô hay cô đã tìm đến lọai hình nghệ thuật đặc trưng của văn hóa Nam Bộ này ?!
Một lời khẳng định: Đó là cuộc hội ngộ giữa một tâm hồn và tài năng khát khao giao cảm với đất trời, với lòng người cũng như sự đón nhận hào phóng nhất của thế giới nghệ thuật cải lương dành riêng cho Bạch Tuyết.
Sọan giả Điêu Huyền là người đầu tiên đã chính thức bắt nhịp cầu đưa Bạch Tuyết vào với sân khấu đúng vào lúc cô tròn 16 tuổi ở đòan Kiên Giang. Người sọan giả tài hoa này, cũng đã ngầm nhận ra những " ẩn số" tài năng nơi Bạch Tuyết. Và ông cũng đã nhận cô làm con nuôi - một sự đỡ đầu tinh thần cần thiết cho cô gái đang ngỡ ngàng đặt chân vào thế giới của những Đào Kép - Tuồng tích, kể cả sự ganh đua và nổi tiếng...
Chưa kịp qua khỏang thời gian làm vũ nữ ( đội múa), hay phải " thử thách" làm đào ba, đào nhì, Bạch Tuyết được nhận ngay vai chính trong Lá thắm chỉ hồng của Điêu Huyền. Với vai diễn đầu tiên này, Bạch Tuyết đã kịp " trình tên" với Tổ nghiệp và sân khấu cải lương được báo hiệu về sự xuất hiện mới từ một tên tuổi lạ.
Rời Kiên Giang đầy tình nghĩa của ông bà Bầu Sáu Nhỏ, một nghiệp chủ giàu có, hữu duyên với nghệ thuật Cải lương để về Thống Nhất Út Trà Ôn từ năm 1963. Ngay trong khỏang thời gian mà xã hội đầy dẫy những biến động, Bạch Tuyết đã đảm nhận vai nữ chính trong Tàn một kiếp hoa của sọan giả Trọng Nguyên, và đọat giải triển vọng Thanh Tâm 1963. Như vậy, chỉ trên dưới hai năm kể từ ngày " gia nhập" giới sân khấu, Bạch Tuyết đã đăng quang. Để rồi, hai năm sau đó, khi về Dạ Lý Hương, với vai Lê Thị Trường An trong Tuyệt tình ca ( Người đối diện lương tâm ) của Hoa Phượng - Ngọc Điệp, Bạch Tuyết tiếp tục lên ngôi với giải xuất sắc Thanh Tâm. Danh hiệu Cải lương chi bảo đã ra đời từ đó, được chính giới ký giả kịch trường và nhiều sọan giả tiếng tăm khẳng định
Ngày 30.4.1975 cột mốc lịch sử của cả dân tộc và cũng là điểm mốc cho một đời người. Những tưởng tấm màn nhung đã khép lại một cuộc đời sân khấu nhưng ngay chính giữa bao ngổn ngang thời cuộc ấy, có một người ở lại,tự nguyện gắn mình với những khó khăn chung của đất nước. Năm 1979, sự kiện Thanh Nga và tấm gương hy sinh lẫm liệt của người nữ nghệ sĩ tài sắc này đã gióng một hồi chuông lương tri đến tất cả những người dân Việt Nam. Giới SK cải lương kết đòan cùng ra trận với đồng lọat 7 Thái hậu Dương Vân Nga. Tình yêu và trách nhiệm của người NS - người công dân được tiếp sức cùng trái tim của một người mẹ trẻ - Bạch Tuyết đã xuất hiện trở lại trên SK của một Việt Nam đã hòan tòan thống nhất.
Nghệ thuật được điểm tô bằng một sức sống mới đã tạo nên một phong cách Bạch Tuyết đạt đến độ chín mùi với tác phẩm Đời cô Lựu trên SK 2-84. Một lần nữa, ý thức công dân đã giúp những NS trong chuyến công diễn các nước Tây Âu trở thành những " sứ giả văn hóa" đầu tiên của giới SK TP Hồ Chí Minh. Đó cũng là một giai đọan " điểm son" trong cuộc đời họat động nghệ thuật của Bạch Tuyết bởi với một lọat những thành công trên SK của Nhà Hát Trần Hữu Trang, SK cải lương đã phục hưng thật sự.
Trôi theo dòng chảy nghệ thuật của Bạch Tuyết, người ta sẽ nhận thấy rằng, sự xuất hiện của cô trên SK không ồ ạt, khá hiếm hoi. Song, từng vai diễn, vở diễn của Bạch Tuyết luôn tạo được một " độ nén" nghệ thuật có tính đột phá rất cao. Những quãng nghỉ, khỏang dừng trong cuộc đời ca hát của Bạch Tuyết dường như là để gom góp bấy nhiêu niềm đam mê, sự tìm tòi, khám phá tiếp tục dồn sức cho những thành công bất ngờ kế tiếp. Trong khả năng và điều kiện cho phép, Bạch Tuyết đã tự nâng cao hiểu biết của mình bằng thái độ không ngừng học hỏi. Tốt nghiệp cử nhân Ngữ văn - tốt nghiệp Đạo diễn tại Bungary - tốt nghiệp Cao học rồi tiếp theo học vị tiến sĩ nghệ thuật học tại Anh - Bungary, với đề tài :" Sự thích nghi của Nghệ thuật sân khấu dân tộc cổ truyền của các quốc gia Đông Nam Á với điều kiện sinh họat hiện đại của khán giả thế kỹ thứ 21".
Trên mọi thứ bằng cấp, học vị, danh hiệu, nơi Con Người Này là một thái độ sống và làm việc không mệt mỏi. Bao niềm vui, nỗi buồn, cả những vị mặn của thế thái nhân tình đi qua cuộc đời - sàn diễn, lại là chất liệu sống - gom thành cái Triết lý xanh tươi nhất cho Bạch Tuyết: "Sống là cho và được cho".
Cuộc khai phá vào mảng SK thử nghiệm ở những năm đầu của thập kỷ 90 là dòng chảy bất tận đó. Diễn kịch một mình " cho cả cõi nhân sinh" -1992 đã mở ra một số phận diễn kịch cho SK thành phố. Hòang hậu của hai vua phân thân và đối thọai cùng lịch sử - một chứng nhân của nghệ thuật cải lương trữ tình và bác học đã hòan tòan thu phục giới SK trong nước và khu vực...
Thuở thiếu thời, Bạch Tuyết đã chọn cải lương làm cánh cửa lập thân. Để đến ngày, cải lương đã trao cho cô tình yêu và sức sống nghệ thuật để nhiều thế hệ công chúng Việt Nam đi qua vẫn ngỏanh lại để chiêm ngưỡng, vẫn vươn tới để đón nhận ngôi vị Cải lương chi bảo - Bạch Tuyết. 

CÁCH LÀM NƯỚC ĐÁ VIÊN VỚI HOA QUẢ ĐẸP MẮT

Cả gia đình cũng như khách nhà bạn chắc chắn sẽ vô cùng thích thú khi được thưởng thức nước uống mát lạnh với những viên đá đẹp mắt có hương hoa, hương quả.

 


Chuẩn bị:

+ Các loại quả (tùy thích) như dâu tây, chanh, cam, táo…
+ Hoa cúc, hoa nhài (hoặc hoa nào an toàn)
+ Lá thơm
- Quả thì bạn cắt nhỏ bớt (nếu quả to).
- Cho hoa, quả, lá thơm vào các khay đựng làm đá.
- Đổ nước vào khay và cho vào lạnh để làm đá.
- Khi uống chỉ cần cho những viên đá này vào là cốc nước của bạn đủ dậy mùi thơm và lại rất đẹp mắt nữa.
Lưu ý: Đừng quên làm sạch hoa, quả, lá thơm trước khi làm đá nhé.
Da-vien-hoa-qua
Chúc bạn thành công!
 

Thứ Năm, 22 tháng 8, 2013

TÌM HIỂU 3 CÔNG VIỆC ĐẶC BIỆT NHẤT VIỆT NAM

Những việc "khuất góc" trong xã hội: hái sấu, nhặt phân dơi và lượm... xác thai nhi.

Trong cuộc sống này, có người làm bác sĩ, công nhân, kĩ sư…; có người làm để mưu sinh nhưng cũng có người làm công việc xuất phát từ tấm lòng cao cả, xót thương cho số phận mỗi con người.

Ở một vài góc khuất của xã hội, tồn tại những công việc mà chắc hẳn bạn chưa từng nghe tới, nhìn thấy và tưởng tượng ra.

1. Hái sấu Hà Nội

Dọc những con đường Trần Hưng Đạo, Phan Đình Phùng, Tràng Thi, Trần Phú... mỗi độ hè về lại ghi dấu chân của những người đi trẩy sấu. Xuất thân là người Hà Nội gốc cũng có, ngoại tỉnh cũng có, vì hoàn cảnh khó khăn nên một số người đã tìm tới công việc này. Thậm chí có người bắt đầu công việc rất tình cờ: thấy sấu rụng chi chít trên đường mà không ai hái nên đã thử vận may và dựa hẳn vào nó.



Do đặc điểm theo mùa vụ nên phần lớn hái sấu là nghề tay trái của một số người nhưng số tiền kiếm được từ công việc này không hề ít chút nào. Giá một cân sấu rơi vào khoảng hơn 20.000đ, mối khách chủ yếu là quán cơm bình dân, quán nước. Việc hái sấu “hot” tới độ với những cao thủ có thâm niên còn có khách quen đặt hàng trước khi hái để mua được sấu tươi ngon nhất.


Không vốn đầu tư lại có lãi song ai cũng hiểu rằng, nó ẩn chứa đầy tính nguy hiểm. Những cây sấu khá cao, muốn hái được đòi hỏi dân nhà nghề phải có dụng cụ chuyên dụng. Đó là những cây sào đặc biệt, hoặc giả họ phải có gan liều lĩnh và khả năng leo trèo tài tình trên các cành cao để thu lượm những chùm sấu sai trĩu quả.

2. Nhặt phân dơi

Tạm xa rời Thủ đô, ta tới miền quê nghèo Đồng Sinh, Lạng Sơn, đây được coi là điểm có nhiều dơi trú ngụ nhất miền Bắc. Và đây cũng chính là nơi khởi nguồn công việc mưu sinh vất vả từ hàng trăm năm nay của người dân địa phương: nhặt phân dơi.


Hầu như 70% phụ nữ, trẻ em (từ 10 tuổi đến hơn 50 tuổi) ở thôn đi nhặt phân dơi hàng ngày kiếm sống. Dậy từ lúc chưa bình minh, mọi người kéo lên khu Hang Dơi, mang theo đồ nghề gồm một cái thúng, một cái chổi, đèn pin cài đầu, găng tay, áo mưa và sàng bằng tre để lọc phân.

Lên tới nơi, trong ánh sáng mờ ảo, họ lầm lũi sờ mó, nhặt từng hòn sỏi, đá và lượm phân dơi nho nhỏ bằng hạt đạm màu nâu lẫn trong đất. Thậm chí, để kiếm được phân nguyên chất, một số người còn trèo lên những vách cao, nơi mà chất thải của dơi còn nguyên chất, chưa bị lẫn trong đất.


Điểm đặc biệt của công việc này là dân vào hang phải chịu đựng mùi hôi thối, nồng nặc kinh khủng. Để chống chọi, người ta phải bôi dầu gió vào mũi và đeo tận 2 chiếc khẩu trang. Ấy vậy mà họ vẫn luôn mong chờ những “cơn mưa phân” rơi xuống người. 

Số phân này sau đó được tập kết và đem bán cho những ông chủ đầu mối với giá rẻ như bèo, rồi được sản xuất thành phân bón cây. Mỗi đấu phân được chủ trả giá 2000đ, nhiều thì sẽ đong bằng chậu gỗ hình chữ nhật với giá 12.000đ/chậu.

3. Lượm... xác thai nhi

Nếu xét về số lượng thì lượm xác thai nhi là công việc ít người làm nhất. Đơn giản vì công việc này không kiếm ra tiền, vất vả cực nhọc nhưng nó xuất phát từ sự nhân đạo, tấm lòng cao cả của những con người có tâm trong xã hội.

Người "khai sinh" ra công việc này là bà Cường ở xã Nghĩa Thắng, Nam Định. Sau này, một người đàn ông cùng thôn là ông Vũ Văn Bao là người thứ hai tiếp tục công việc nhân văn này. Hai con người, hai số phận nhưng chung một tấm lòng. Họ đau đớn, xót xa trước cảnh tượng những đứa trẻ, hài nhi nhỏ bé vừa sinh ra đã bị vứt bỏ nơi đầu đường, xó chợ bởi sự thiếu suy nghĩ, nông cạn của một bộ phận cha mẹ trẻ.


Trong vòng 10 năm, từ chỗ bị chê là khùng, bà Cường đã nhận được sự ủng hộ to lớn của xã hội, chôn cất và an táng cho hơn 3.000 hài nhi. Còn ông Bao, sau 2 năm tham gia công việc, ông cũng đã “chăm lo” cho khoảng 2.000 đứa trẻ. Cả hai ông bà đều tâm sự: họ thấy khổ tâm khi số lượng những đứa trẻ tìm thấy ngày càng nhiều, quyển sổ ghi chép ngày càng dày lên. Ước mong duy nhất của họ chính là càng sớm thất nghiệp càng tốt, để có thể sống bình yên thanh thản với tuổi già.

* Bài viết sử dụng tư liệu tham khảo từ các nguồn: Kienthuc, NLD, Baomoi, Skydoor...

Thứ Ba, 20 tháng 8, 2013

THIÊN NHIÊN HOANG DÃ TRUNG QUỐC

BBC - Wild China (2008) 720p
  
Trung Quốc là một quốc gia rộng lớn với vô vàn phong cảnh biến đổi khác thường và cũng là quốc gia đông dân nhất thế giới. Qua những chuyến du hành chưa từng có, loạt phim gồm 6 tập đã hé lộ những tài nguyên thiên nhiên mới chỉ được biết tới rất ít và những thiên đường hoang dã bí ẩn của những vùng đất hoang sơ nhất của Trung Hoa.  
 Tập 1. TRÁI TIM CỦA RỒNG 
Một người nông dân với con trâu cày ruộng trên những thửa ruộng bậc thang. Những quả đồi hình trứng úp dường như không tưởng ở miền Nam Trung Quốc dường như lơ lửng giữa một biển những ruộng lúa lấp lánh. Một khung cảnh tràn đầy kinh ngạc. Tiếp sau cảnh người nông dân đang cày ruộng với những chú trâu là những dòng sông ẩn chứa lũ cá sấu bé nhỏ và những con kỳ giông khổng lồ, lũ chim cốc đã được huấn luyện để bắt cá cho chủ chúng, bọn dơi với các giác quan bất thường và đàn khỉ trú ẩn trong hang động.
Nhưng đây không phải là một công viên tự nhiên. Có tới 300 triệu dân sống ở vùng này, với thói quen chén thịt những con vật hoang dã. Vậy điều gì đã định hình nên khung cảnh ấn tượng này và làm thế nào người nông dân và những sinh vật hoang dã xoay sở được để cùng tồn tại giữa vùng đất lẫn lộn núi đá và cánh đồng này?

Tập 2. SHANGRI-LA  
Những khu rừng đá phía Nam tỉnh Vân Nam nằm bên dưới biển mây cuồn cuộn, nơi vùng đất Tây Nam xa xôi, có lẽ là kho báu tự nhiên giàu có nhất trong toàn Trung Quốc. Những con sông rộng lớn lượn xuôi về phương nam dưới chân những đỉnh núi cao ngất. Những vùng đất lộng gió là nơi cư ngụ của loài linh trưởng tiến hóa nhất thế giới và ẩn trong các thung lũng phía dưới là rừng nhiệt đới với vô số động vật hoang dã có thể sánh với rừng nhiệt đới Amazone.
Những con chim màu sắc hiếm quý và những bộ lạc cổ xưa cùng chung sống trong rừng, nơi lũ voi vẫn lang thang kiếm ăn. Điều bí ẩn là những cánh rừng xa xôi của Vân Nam kéo dài tới tận phương Bắc, nơi thường chỉ thấy sa mạc tồn tại. Làm sao lại xuất hiện rừng ở nơi phương Bắc? Khung cảnh thô mộc nơi đây nắm giữ câu trả lời.

Tập 3. TÂY TẠNG  
Thung lũng Yarlung. Cao nguyên Tây Tạng trải dài khắp một tư đất nước Trung Quốc – một khu vực có diện tích bằng cả Tây Âu. Vùng đất hoang vu bao la lộng gió này là một trong những khu vực hẻo lánh nhất thế giới, được định hình bởi dãy Himalaya phủ tràn băng tuyết. Đó cũng là vùng đất của những loài thú đáng kinh ngạc như linh dương Tây Tạng, gấu nâu, bò hoang Yak và những loài dã thú khôn ngoan nhất Trái Đất. Chính vùng đất này là nơi có nhiều loài sinh vật hơn bất cứ nơi nào ở Trung Quốc.
Nổi tiếng hơn một nghìn năm qua nhờ Phật giáo, Tây Tạng có nền văn hóa độc nhất vô nhị mà trong đó nuôi dương những tín ngưỡng khác biệt. Tập phim này cho ta biết vì sao vùng đất này cùng với nền văn hóa cổ xưa đã trở thành một hệ tư tưởng cho nhiều người nơi hành tinh chúng ta.
Tập 4. BÊN KIA VẠN LÝ TRƯỜNG THÀNH  
Những chú lạc đà băng ngang qua sa mạc cát luôn biến đổi. Các hoàng đế Trung Hoa đã xây dựng nên Vạn Lý Trường Thành để bảo vệ vương quốc của họ khỏi những bộ lạc thù địch nơi phương bắc. Đây là vùng đất của những bộ lạc thiện chiến, những loài thú kỳ lạ và thời tiết khắc nghiệt nhưng cũng là vùng đất của những cánh rừng thường xanh ngoạn mục và bao la, đồng cỏ và những cồn cát sa mạc thuần chất, với lịch sử lâu đời.
Con đường Tơ Lụa huyền thoại mang theo đoàn thương nhân cùng những con lạc đà xuyên qua sa mạc đi tìm kiếm sự giàu có phi thường và những kỵ mã Mông Cổ hung bạo đã chinh phục cả thế giới. Ngày nay, những con người du mục này vẫn đua ngựa và đi săn với những con đại bàng mắt vàng, trong khi những chú chuột đồng bé nhỏ và những con ngựa hoang cuối cùng còn sót lại của châu Á vẫn vật lộn để tồn tại nơi sa mạc tận cùng phương bắc.
Tập 5. XỨ SỞ CỦA GẤU TRÚC  
Một con gấu trúc đang dạo qua khu rừng tre phủ đầy tuyết. Trung Nguyên, nơi sinh sống của người Hán, là trung tâm của một nền văn minh đã có hơn 5000 năm tuổi. Nơi ấy có Vạn Lý Trường Thành, Thiên Đàn, sân vận động Olympic Bắc Kinh và là nơi cư ngụ của những loài sinh vật hấp dẫn nhất như gấu trúc lớn, khỉ mũi hếch lông vàng và trâu vàng.
Trung Quốc đã trải qua một công cuộc phát triển ấn tượng trong 50 năm qua, và chính sự phát triển ấy phải trả giá bằng nhiều vấn đề về môi trường. Tập phim tìm hiểu về mối quan hệ đặc biệt, phức tạp và sâu sắc giữa người dân Trung Quốc, môi trường sống của họ và những sinh vật Trung Quốc, thử xem nó sẽ ra sao trong tương lai.
 
Tập 6. LÀN SÓNG THAY ĐỔI  
Những con sếu đầu đỏ in bóng trên nền trời sáng nhạt. Từ điểm cực đông của Vạn Lý Trường Thành, bờ biển Trung Quốc kéo dài 14,5 kilomet và có tới hơn 5000 năm lịch sử. Đây là một nơi chốn tương phản lớn lao: những thành phố hiện đại futuristic xen lẫn những ngôi làng lợp mái bằng tảo biển kiểu truyền thống, những đồi chè cổ xưa và những đầm lầy hoang dã nơi những con thú quý hiếm vẫn còn tồn tại.
Ở đây còn có cá heo trắngTrung Quốc, sếu đầu đỏ, rắn độc, cá tầm lớn và những con khỉ sabre-wielding đang vật lộn để sinh tồn và phải đối mặt với sự cạnh tranh của 700 triệu dân, ô nhiễm trên diện rộng và nạn đánh bắt cạn kiệt. Cách đất nước Trung Quốc giải quyết những áp lực cạnh tranh sẽ cho chúng ta những bài học bổ ích.
 
Folder : Wild China - 6 tập và Phụ Đề Việt 

http://khohd.blogspot.com/2012/05/thien-nhien-hoang-da-china-2008.html 



RƯỢU TỎI (THẦN DƯỢC)

Trần Duy Linh(bài do bạn ToanDang giới thiệu)


I - Xuất Xứ
 
 
 
 
Vào những năm 1960-1970, Tổ chức Y tế Quốc tề (WHO) phát hiện Ai Cập tuy  là một nước nghèo khí hậu sa mạc khắc nghiệt nhưng sức khoẻ chung của dân chúng lại vào loại tốt, ít bệnh tật và tuổi thọ trung bình tương đối cao. Với sự chấp thuận của chính phủ Nasser đương thời , WHO đã cử một phái đoàn quốc tế sang Ai Cập để tìm hiểu lý do. Nhiều chuyên gia y tế đông nhất là từ Hoa Kỳ, Tây Âu, Nhật bản đã  chia nhau đi xuống nông thôn vào các vùng có khí hậu khắc nghiệt để thu thập các tài liệu đặc biệt. Cuối cùng họ đã phát hiện là ở Ai Cập nhà nào cũng có một lu rượu ngâm tỏi để uống. Nhân dân Ai Cập nói từ bao nhiêu thế kỷ nay nước họ vẫn làm thế.
 
Ngày xưa Ai Cập là một đế chế lớn, chinh chiến liên miên, chủ yếu là xử dụng gươm dao chém giết nhau. Thời ấy làm gì có thuốc kháng sinh, nên họ chỉ dùng nước tỏi để uống và cũng để rửa các vết thương. Ở mỗi  vùng tỏi được ngâm rượu theo những công thức khác nhau Các chuyên gia đã lấy về nước họ nghiên cứu và phân tích và sau đó một bảng  tổng  kết đã được nộp cho WHO vảo năm 1980 với những nhận xét như sau.
Rượu tỏi chữa trị được bốn  nhóm bệnh :
1) Thấp khớp (sưng khớp, vôi hoá các khớp, mỏi xương cốt).
2) Tim mạch (huyết áp thấp, huyết áp cao, hở van tim, ngoại tâm thư)
3) Phế quản (viêm phế quản, viêm họng, hen phế quản).
4) Tiêu hoá (ăn khó tiêu, ợ chua, viêm tá tràng, loét bao tử).
Ðến năm 1983, Nhật lại bổ sung thêm hai  nhóm bệnh nữa là :
5) Trĩ nội và trĩ ngoại.
6) Tiểu đường
Nhật cũng công bố : "Ðây là một loại thuốc tuyệt vời của nhân loại vì dễ làm, rẻ tiền, không gây phản ứng phụ và có hiệu quả chữa bệnh rất cao".


II – Nguyên Lý
 
   Con người ta thông thường tuổi từ 40 trở lên (có thể trẻ hơn nữa) là đã có bệnh. Các bộ phận trong cơ thể bắt đầu thoái hoá, bộ phận nào yếu thì thoái hoá nhanh, đặt biệt là làm cho các chức năng hấp thụ chất béo (lipid) chất đường (glucoze) bị suy giảm. Các chất đó không hấp thụ hết qua đường tiêu hoá, phần thừa không thải ra ngoài được, dần dần lắng đọng trong thành vách mạch máu, làm xơ cứng động mạch và xơ cứng một số bộ phận khác rồi lâu ngày gây ra những chứng bệnh như trên.

III - Kết quả chữa bệnh
Tác giả tổng hợp bài viết này theo kinh nghiệm chứng thực cho biết : Từ năm 1970 bị thấp khớp nặng, sưng cả các khớp phải đi bằng gậy chống. Thuốc tân dược và  đông y dùng đã nhiều như "Cao hổ cốt", "rượu tắc kè" (lúc nào cũng có sẵn), thế mà bệnh không đỡ lại nặng thêm. Năm 1975 bị ngã gần chết. Năm 1981 bị ngất phải đưa vào cấp cứu ở bệnh viện ba ngày mới hết nên sức khoẻ càng giảm.
Vào cuối năm 1982 mới bắt đầu uống rượu ngâm tỏi, thì 20 ngày sau bắt đầu thấy giảm bệnh sưng khớp. Qua 3 tháng, huyết áp trở lại bình thường. Bệnh viêm họng cũng khỏi. Hen phế quản giảm nhiều. Ngoài ra tác giả còn cho biết bịnh trĩ nội mỗi năm đi mất 5, 7 lần. Hen phế quản nặng cấp cứu nằm bệnh viện 2, 3 lần. Từ khi liên tục dùng rượu tỏi cho tới nay đã gần 8 năm mà không phải đi bệnh viện lần nào cả. Ngủ rất bình thường, ăn thì tiêu hoá tốt, đặt biệt đối với bệnh thấp khớp thì coi như thuốc thần. Vì tác giả trước đây khổ vì thấp khớp, nay khỏi hẳn không còn biểu hiện gì cả.
Cho nên, kết luận của người Nhật phần trên là hoàn toàn đúng :
"Ðây là thứ thuốc tuyệt vời của nhân loại, vì dễ làm, rẻ tiền, không gây phản ứng phụ và lại có hiệu quả chữa bệnh rất cao. (Theo World Hearth Organizations)

IV  Cách bào chế rượu tỏi
 
(1)Tỏi khô (đã bóc bỏ vỏ) 40 g đem thái nhỏ, cho vào chai ngâm với 100 ml rượu trắng 40-45 độ, thỉnh thoảng lại lắc chai rượu, dần dần rượu chuyển từ màu trắng sang màu vàng, đến ngày thứ 10 thì chuyển sang màu nghệ và uống được. Mỗi ngày dùng 2 lần, sáng uống 40 giọt (tương đương một thìa cà phê) trước khi ăn ; tối uống 40 giọt trước khi ngủ. Uống khoảng 20 ngày thì hết, bởi vậy cứ sau 10 ngày lại ngâm tiếp, để ngày nào cũng có rượu tỏi dùng. Uống liên tục suốt đời với một lượng rượu rất nhỏ như thế, người kiêng rượu hoặc không uống được rượu vẫn dùng được.  
Đã có nhiều người áp dụng bài thuốc rượu tỏi trên của WHO, nhưng liều lượng thì linh hoạt (thậm chí có người uống tới 3 thìa cà phê rượu tỏi /lần) nhưng không thấy phản ứng phụ.
* * * * *

(2) 250 gam tỏi . Tỏi có tép nhỏ và có mùi thơm khi bấm vào, lột vỏ, cho vào cối giả hoặc máy sinh tố xay nhỏ hạt. Không cần nhuyễn nhừ như trái cây uống sinh tố. Cho vào 1/2 lít rượu trắng, loại rượu ngon chuyên dùng để ngâm thuốc.
     Đậy kín nắp lọ (dùng lọ thuỷ tinh). Sau khi ngâm 10 ngày, múc bã tỏi cho vào compress (vải mùng) vắt ráo. Nhớ làm mỗi lần một tí, cho đến khi hết tỏi đã ngâm trong lọ.
     Nước cốt tỏi có được và rượu còn trong lọ, cho tất cả vào chai thuỷ tinh. Đậy kín để 1 tuần, sau đó bắt đầu uống.
     Rượu tỏi hơi khó uống vì hôi nồng và nóng, vì thế lúc bắt đầu nên uống chừng 5, 10 giọt, khi quen dần thì tăng lên, nhưng đừng quá 5 ml mỗi lần uống. Ngày có thể uống 1 hoặc 2 lần.
(3) Cách làm Rượu Tỏi Việt Nam Thư Quán
 
Vật liệu :
- 40 gram tỏi khô (mua 50 gram, sau khi bóc vỏ còn chừng 40 gram)
- 100 ml rượu trắng 45 &##273;ộ (tốt nhất là rượu Lúa mới)
 
 Cách làm :
1. Thái tỏi thật nhỏ
2. Cho tỏi vào lọ đã rửa sạch
3. Cho rượu vào
4. Ngâm 10 ngày, thỉnh thoảng lắc chai để tỏi ngấm rượu cho đều

Quan sát :
Mới đầu rượu có màu trắng, sau chuyển dần sang màu vàng, đến ngày thứ 10 thành màu nghệ
 
Cách dùng :
Mỗi lần dùng 40 giọt (compte gouttes) vào buổi sáng trước khi ăn và buổi tối trước khi ngủ. Vì lượng ít nên chế thêm nước sôi để nguội vào thì mới uống thành một ngụm.
Uống liên tục cả đời.
Người phải kiêng rượu không uống được rượu vẫn có thể dùng được vì mỗi lần chỉ uống 40 giọt, một số lượng không đáng kể.

Bí quyết :
40 gram tỏi như thế, dùng trong 20 ngày thì hết, trong khi phải ngâm đến 10 ngày mới dùng được, cho nên cứ phải ngâm sẵn một lọ gối đầu để dùng liên tục.

 
V- Thắc mắc

Tôi có dùng rượu tỏi để phòng và trị một số bệnh. Tuy nhiên, khi tôi dùng rượu tỏi vào buổi tối thì có cảm giác bị xót bao tử vào giữa đêm, hơi bứt rứt.

Sở dĩ  dùng rượu tỏi có cảm giác bị xót bao tử có thể là do ảnh hưởng của rượu. Chứ tỏi có tác dụng làm lành vết thương, tỏi cũng nóng, nhưng không đến mức làm xót bao tử.

Dân gian còn có một cách khác dùng tỏi thay cho rượu tỏi đó là tỏi trộn mật ong, được làm bằng cách : dùng tỏi còn tươi có tép nhỏ, xay nát rồi đem trộn với mật ong, cho vào trong chai để dành dùng dần (mật ong có tác dụng bảo quản tỏi không hư).
Dùng tỏi trộn mật ong, ngoài những tác dụng gần giống như rượu tỏi : hỗ trợ tiêu hoá, tiêu diệt các loại vi khuẩn, các nấm gây bệnh (nhờ tỏi có một số tinh dầu, chất kháng khuẩn, có tác dụng ức chế các loại vi khuẩn, các nấm gây bệnh), còn giúp kháng được một số gốc oxy hoá, các yếu tố thuận lợi dẫn đến ung thư ..
Theo y học cổ truyền, tỏi có vị cay, tính ấm, có công dụng sát trùng, giải độc, hành khí. Mật ong khi trộn với tỏi, ngoài công dụng bảo quản tỏi không hư, mật ong còn là chất bổ dưỡng cung cấp các vitamin, giúp làm lành các vết loét bao tử.

Người bình thường mỗi ngày dùng một muỗng mật ong cũng rất tốt, có thể dùng riêng một mình mật ong, hoặc có thể pha với nước chanh để dùng.
Nói thêm : dân gian còn có cách dùng mật ong đánh với lòng đỏ trứng gà (trứng gà đã được kiểm dịch), đánh đến khi lòng đỏ trứng chuyển sang màu trắng hơi vàng lợt (lúc này mật ong đã làm chín lòng trứng), xong rót bia vào và đánh đều lên sẽ có một thức uống rất thơm ngon và bổ dưỡng.
                                                                  
                                                                        xxxxx

 
Chúng ta hãy tìm hiễu thêm vể tính chất y dược cũa tỏi như sau:

Thành phần, dược tính.

Tỏi có 3 hoạt chất chính allicin và liallyl sulfide và ajoene.   
Allicin là hoạt chất mạnh nhất và quan trọng nhất của tỏi.  Allicin không hiện diện trong tỏi. Tuy nhiên, khi được cắt mỏng hoặc đập dập và dưới sự xúc tác của phân hoá tố anilaza, chất aliin có sẳn trong tỏi biến thành allicin. Do đó, càng cắt nhỏ hoặc càng đập nát, hoạt tính càng cao.  Một ký tỏi có thể cho ra từ 1 đến 2 gam allicin.  Allicin dễ biến chất sau khi được sản xuất ra.  Càng để lâu, càng mất bớt hoạt tính.  Đun nấu sẽ đẩy nhanh quá trình mất chất nầy.  Đun qua lò vi sóng sẽ phá huỷ hoàn toàn chất allicin. Allicin là một chất kháng sinh tự nhiên rất mạnh, mạnh hơn cả penicillin. Nước tỏi pha loãng 125.000 lần vẫn có dấu hiệu ức chế nhiều loại vi trùng gram âm và gram dương[i] như saphylococcus, streptococcus, samonella, V. cholerae, B. dysenteriae, mycobacterium tuberculosis. Tỏi cũng ức chế sự phát triển của nhiều loại siêu vi như siêu vi trái ra, bại liệt, cúm và một số loại nấm gây bệnh ở da hoặc bộ phận sinh dục nữ như candida.
Liallyl sulfide không mạnh bằng allicin[ii].  Tuy nhiên, sulfide không hư hoại nhanh như allicin và vẫn giữ được dược tính khi nấu.  Giống như allicin, càng giã nhỏ càng sinh ra nhiều sulfide, nếu nấu nguyên củ tỏi sẽ không có hiệu lực. Tỏi không chỉ có tác dụng kháng sinh, tác dụng trên hệ tim mạch mà còn có hiệu lực trên tế bào ung thư.  Những nghiên cứu của Trung Quốc và Ý được phổ biến trong tạp chí British Journal of Cancer số tháng 3/1993 cũng cho biết tỏi có nhiều hoạt chất có thể ngăn chận sự phát triển của nhiều loại khối u ung thư. Theo các nhà khoa học trường Đại học Pensylvania khả năng ngăn chận khối u ung thư của tỏi liên quan đến các hợp chất S-allyl cysteine, diallyl disulfide  và diallyl trisulfide.
Một hoạt chất khác ít được nhắc đến là ajoene.  Ajoene cũng có tác dụng làm giảm độ dính  của máu. 
Ngoài ra, tỏi còn có hàm lượng khoàng chất selenium, một chất chống oxy hoá mạnh làm tăng khả năng bảo vệ màng tế bào, phòng chống ung thư và bệnh tim mạch của tỏi.
Theo Đông y, tỏi vị cay, tính ấm, hơi có độc, vào 2 kinh Can, Vị.  Tỏi có tác dụng thông khiếu, giải phong, sát trùng, giải độc, tiêu nhọt, hạch. 
Tỏi và bệnh tim mạch.
 Một công trình nghiên cứu về tỏi đã từng được phổ biến  trên tạp chí Praxis ở châu Âu. Bác sĩ Piotrowski thuộc trường Đại học Geniva qua nghiên cứu trên 100 bệnh nhân cao huyết áp đã cho biết huyết áp trên các đối tượng nầy bắt đầu hạ sau 1 tuần được điều trị với dầu tỏi. Liều dùng giảm dần xuống trong 2 tuần kế tiếp, theo sau là liều duy trì.
Một bài viết khác trên tạp chí Lancet (31.5.1975) của Tiến sĩ R.C. Jain, M.D. thuộc trường Đại học Benghzi, Lybya cũng đề cập đến một nghiên cứu về tác dụng hạ mỡ máu của tỏi được kiểm chứng trên những con thỏ thí nghiệm.  Một nhóm thỏ được nuối bằng chế độ ăn nhiều mỡ để mức cholesterol toàn phần tăng vọt đến 2.100.  Một nhóm thỏ khác ăn cùng loại thức ăn trên nhưng được bổ sung thêm chất trích xuất từ tỏi thì mức cholesterol trung bình chỉ khoảng 419. Những nhà khoa học cho rằng độ cholesterol nầy vẫn còn cao so với bình thường.  Tuy nhiên hiệu quả cải thiện mỡ trong máu của tỏi là rất rõ ràng.  Bác sĩ Jain cũng cho biết những mãng xơ vữa trong những con thỏ được dùng tỏi không nghiêm trọng như ở những con thỏ không dùng tỏi.
Một nghiên cứu của một nhóm nhà khoa học Ấn độ trên những đối tượng khoẻ mạnh được cho dùng khoảng 2 ounce (khoảng 57g) tỏi hoặc lượng chất chiết xuất tỏi tương đương thì độ cholesterol giảm trung bình từ 229 xuống còn 213 trong vòng 3 giờ đồng hồ.  Ở một nghiên cứu khác, một số đàn ông bị áp huyết cao trung bình được dùng những viên tỏi.  Kết quả cho thấy những người nầy không chỉ hạ được độ cholesterol mà  còn hạ được áp huyết trong vòng từ 10 đến 40 ngày.  Một báo cáo của các nhà khoa học trường Đại học Newyork cũng cho biết những người ăn hàng ngày từ ½ đến 1 củ tỏi trong vòng từ 8 đến 24 tuần có thể hạ độ cholesterol xuống khoảng 9%.
Cơ chế tác dụng của tỏi trên hệ tim mạch.  
Tỏi làm hạ cholesterol bằng cách gia tăng sự đào thải cholesterol và làm giảm sự hấp thụ cholesterol xấu qua màng ruột qua đó làm giảm độ lipid trong máu.  Hoạt chất của tỏi có tính chất  gần giống như nội tiết tố prostaglandin  PGI2 vừa nở mạch vừa ngăn chận quá trình kết tập tiểu cầu nên có tác dụng  hạ cao huyết áp.  Chất ajoene trong tỏi cũng làm giảm nồng độ fibrinogen trong máu giúp giảm nguy cơ nghẽn mạch.  Trong các loại bệnh xơ vữa động mạch, các gốc tự do làm gia tăng sự oxy hoá những  tế bào  LDL ở thành mạch máu tạo thành mãng bám gây cứng động mạch và làm hẹp lòng mạch. Tỏi là một loại gia vị có những chất chống oxy hoá mạnh nhất trong số các gia vị thông thường, có thể ngăn chận quá trình nầy.
Rượu tỏi giảm mỡ máu, hạ cao huyết áp.  Tỏi là một vị thuốc có tính nóng.  Có một số trường hợp dùng rượu tỏi chữa cao huyết áp sau khi giảm một thời gian huyết áp đã lại cao trở lại.  Do đó, việc dùng lâu dài cần phải  phải linh động gia giảm tuỳ theo cơ địa hàn nhiệt và điều kiện của mỗi người.  Sau khoảng 2 hay 3 tuần, người bệnh phải giảm dần liều dùng và lưu ý dùng liều thấp hơn đủ để duy trì hiệu quả điều trị.  Ngoài ra, việc điều trị cao huyết áp và phòng ngừa bệnh tim mạch  cần được phối hợp với chế độ ăn nhiều chất xơ, ít chất béo bão hoà trong các loại thịt động vật và tăng cường vận động chớ không nên chỉ dựa vào tỏi.  Sau đây là một công thức ngâm rượu tỏi để chữa cao huyết áp hoặc làm hạ độ cholesterol trong máu.  Dùng 300g tỏi.  Sau khi bóc võ và xắt lát mỏng, ngâm tỏi trong 600g rượu trắng khoảng 40o.  Sau 2 tuần chắt rượu ra để dùng.  Mỗi ngày dùng 2 lần, mỗi lần từ 15 đến 20 giọt.  Sau khi dùng khoảng 2 hoặc 3 tuần nên theo dõi huyết áp để giảm dần liều dùng xuống liều duy trì.

Một vài cách sử dụng tỏi thông thường.

Phòng và trị cúm. Giã nát 3 tép tỏi, hãm trong 50g nước sôi khoảng nửa giờ. Chắt lấy nước, nhỏ vào mũi mỗi bên khoảng 2 hay 3 giọt, ngày 2 hoặc 3 lần. 
Rửa vết thương, chỗ lở loét.. Pha loãng 1 phần dịch tỏi và 10 phần nước cất, thêm 2% cồn để bảo quản. Kinh nghiệm của bác sĩ Taghiep (Nga) cho biết dùng nước tỏi chữa nhiễm trùng do bỏng sau 12,5 ngày thì lành trong khi điều trị với penicillin và sulfamid phải mất 14,5 ngày. 
Chữa đau răng.  Giã nát 2 tép tỏi trộn với một chút nước ấm. Đợi khoảng 10 phút sau, dùng một que tăm tẩm dịch tỏi thấm đều chung quanh chỗ đau.
Chữa mụn cóc, chai chân.  Giã nát 2 tép tỏi, dán gọn vào chỗ bị chai và để qua đêm.
Chữa viêm họng.  Giã nát 2 tép tỏi, trộn 1 phần tỏi và 3 phần hành lá, buộc vào huyệt Hợp cốc ở bàn tay.  Để qua đêm.  Dịch tỏi sẽ thấm qua da và kích thích mạnh vào huyệt có tác dụng “tả”để chữa viêm họng. Hành lá có tác dụng làm giảm độ nóng để tránh phồng da.  (Úp bàn tay xuống, xoè rộng 2 ngón tay trỏ và ngón tay cái, huyệt hợp cốc nằm trên mặt lưng của bàn tay, ở chỗ lõm giữa 2 xương ngón tay cái và ngón tay trỏ.)
Kiện Tỳ, bổ khí, sinh tinh, chữa áp huyết thấp. Gà hấp cách thuỷ với tỏi. Dùng 1 con gà khoảng nửa ký, 40g tỏi thái mỏng, nửa chén rượu vang, gia vị vừa đủ.  Gà làm sạch, bỏ lông và nội tạng.  Hấp cách thuỷ, ăn trong ngày.  Không dùng cho người thể tạng nhiệt, nóng sốt hoặc đang bị các chứng viêm nhiễm đang phát triển.
Lưu ý. Do có tính nóng và tác dụng hành khí mạnh, cẩn thận khi  dùng tỏi cho người đang có thai, đang nóng sốt, nhiễm trùng chân răng, viêm xoang.  Tỏi cũng có thể gây dị ứng làm ngứa ngáy, nổi mẩn ở một số người.  Ngoài ra, người sắp được phẫu thuật không nên dùng tỏi vì tỏi có khả năng làm thay đổi ảnh hưởng của các thuốc chống đông máu được dùng trong giải phẫu.  Một nghiên cứu còn cho biết dùng tỏi có thể gây phản ứng phụ nguy hiểm đối với những người đang điều trị HIV/AIDS.
 
Bài đọc thêm