Thứ Tư, 27 tháng 5, 2015

[KHOA HỌC] ĐÔI MẮT ĐÃ PHẢN BỘI CHÚNG TA NHƯ THẾ NÀO?

2486811_Tinhte_chau_dieu_minh_google_glass-014. ​

Người ta thường nói đôi mắt là cửa sổ tâm hồn, và xét về mặt khoa học, nó đúng là như vậy. Không chỉ phản ánh những gì đang diễn ra trong não bộ, mắt còn có thể ảnh hưởng đến việc tìm lại ký ức và đưa ra quyết định.

Mắt của chúng ta đang liên tục di chuyển, đôi khi hành động này diễn ra trong vô thức, cũng có khi được kiểm soát. Chẳng hạn khi đọc, đôi mắt liên tục liếc từ bên này sang bên khác, lướt qua từng từ một. Khi chúng ta bước vào một căn phòng, mắt sẽ đảo để nhìn xung quanh, trước khi cung cấp một cái nhìn ổn định về không gian mới. Trong giai đoạn chuyển động mắt nhanh (REM) của giấc ngủ, mắt sẽ liên tục đảo quanh.

Ánh mắt trong việc đưa ra quyết định

tải xuống. ​

Sự vận động của mắt không phải là không có ý nghĩa, theo nhiều nghiên cứu được thực hiện bởi các nhà khoa học trên khắp thế giới. Một công trình vừa công bố năm ngoái cho thấy sự giãn nở đồng tử có liên quan đến mức độ không chắc chắn trong quá trình đưa ra quyết định. Cụ thể, nếu ai đó là thếu quyết đoán trong quyết định, đồng tử của họ giãn ra. Bên cạnh đó, trạng thái này của mắt còn giúp dự đoán khi nào một người thận trọng trả lời “có” hoặc “không” đối với các quyết định khó khăn.

Dự đoán con số trong đầu đối phương qua ánh mắt



Nhìn vào đôi mắt, người ta cũng có thể ước lượng con số mà bạn đang hình dung trong đầu. Tobias Loetscher và các đồng nghiệp của ông tại Đại học Zurich tuyển 12 tình nguyện viên, đồng thời yêu cầu họ xem qua một danh sách gồm 40 con số. Nhiệm vụ của họ là phải đọc lại đầy đủ theo thứ tự 40 con số trên, trong khi được các nhà khoa học theo dõi cử động mắt.

Các chuyên gia phát hiện ra rằng chuyển động mắt của người tham gia, cho phép dự đoán chính xác con số mà họ sắp nói là lớn hay nhỏ hơn so với đáp án. Ánh mắt của tình nguyện viên sẽ di chuyển lên phía trên bên phải, trước khi họ cho biết một con số lớn hơn. Và dịch chuyển xuống dưới bên trái, trước khi đưa ra đáp số nhỏ hơn.

Chuyển động mắt giúp truy hồi ký ức

tải xuống (3). ​

Năm 2013, các nhà nghiên cứu Thụy Điển công bố bằng chứng cho thấy: cử động mắt thực sự có thể tạo điều kiện để truy hồi các sự kiện trong quá khứ.

Để đưa ra kết luận, 24 sinh viên được mời tham gia một bài thí nghiệm. Họ phải chú ý lắng nghe một loạt thông tin về các đối tượng đã được cho xem trước đó, chẳng hạn: "Chiếc xe chuẩn bị rẽ trái". Sau đó đưa ra đáp án Sai hoặc Đúng càng nhanh càng tốt. Đối tượng trong bài kiểm tra chia làm 2 nhóm, một nhóm buộc phải giữ mắt đứng im và nhìn chăm chú vào mục tiêu nào đó. Nhóm khác có quyền để mắt tự do di chuyển.

Các nhà khoa học phát hiện: những người được phép cử động mắt một cách tự nhiên có khả năng thu hồi ký ức tốt hơn hẳn. Bên cạnh đó, bài kiểm tra còn cho thấy nhóm người nhìn chằm chằm vào một đối tượng có thể phân tích nó tốt hơn việc nhớ lại sự kiện đã xảy ra. Giới chuyên gia cho rằng có lẽ chuyển động mắt đã giúp chúng ta liên kết mối quan hệ không gian giữa hiện tại và quá khứ.

Theo dõi ánh mắt để điều khiển hành vi người khác

Một nghiên cứu gần đây cho thấy chuyển động mắt của chúng ta có thể bị người khác lợi dụng, để đưa ra quyết định theo ý người đó muốn. Trong một thí nghiệm, các nhà khoa học đặt ra câu hỏi cho tình nguyện viên: “Giết người có phải là hành vi hợp lý?”, đồng thời đưa ra hai đáp án: “Đôi khi” hoặc “Không bao giờ”.

tải xuống (4).
Không cần quét não, người khác cũng có thể đọc vị bạn thông qua ánh mắt.​

Sau khi được cho một khoảng thời gian nhất định để nhìn chằm chằm vào màn hình và đưa ra quyết định, 2 lựa chọn câu trả lời ngay lập tức bị xóa. Bằng cách theo dõi cử động mắt, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng họ có thể thay đổi lựa chọn của người tham gia, ngay khi trong đầu họ đã đưa ra một đáp án khác.

"Chúng tôi không cung cấp cho họ bất kỳ thông tin nào khác", nhà thần kinh học Daniel Richardson của Đại học London (Anh) - tác giả chính của nghiên cứu cho biết. "Chúng tôi chỉ đơn giản là chờ đợi họ chuẩn bị đưa ra quyết định của mình để lên tiếng ngắt lời, ở đúng thời điểm. Chúng tôi đã làm họ thay đổi ý nghĩ chỉ bằng cách kiểm soát ánh mắt khi họ trả lời câu hỏi".

Richardson cho biết những người bán hàng thành công có thể đã khai thác yếu tố này, và sử dụng nó để thuyết phục khách hàng. "Chúng tôi nghĩ rằng những người có sức thuyết phục thường có khả năng ăn nói tốt, nhưng có lẽ họ cũng đang quan sát quá trình ra quyết định của người đối diện", ông nói. "Có lẽ nhân viên bán hàng giỏi đã nhận ra thời điểm chính xác mà bạn đang dao động để hướng tới một sự lựa chọn nhất định, và sau đó cung cấp cho bạn một mức giá ưu đãi hay khuyến mãi nào đó".

Kết luận

eye-tracking-001. ​

Qua những nghiên cứu trên, có thể thấy ánh mắt có khả năng ảnh hưởng đến việc kiểm soát bộ nhớ và ra quyết định, đồng thời nó cũng là nơi phản ánh rõ ràng nhất những suy nghĩ, niềm tin và ham muốn của con người. Các nhà khoa học đã giúp chúng ta khai thác cử động mắt để tăng cường chức năng ghi nhớ của não bộ, nhưng cũng mang lại bất ngờ vì nhiều người lợi dụng đôi mắt để thao túng hành vi chúng ta.

"Đôi mắt giống như cửa sổ của ý nghĩ, và thông tin có thể bị rò rỉ ra ngoài từ đây", Richardson nói. Ngoài ra, nhà thần kinh học đến từ Đại học London cũng lo ngại các công nghệ theo dõi ánh mắt xuất hiện trên những thiết bị điện tử, vô tình có thể biến thành nguồn cung cấp thông tin cho người khác, với các mục đích khác nhau.

Nguồn: BBC
​
 

https://www.tinhte.vn/threads/khoa-hoc-doi-mat-da-phan-boi-chung-ta-nhu-the-nao.2464631/

 

 

BƯỚC ĐỘT PHÁ MỚI TRONG VIỆC CHẾ TẠO CHÂN GIẢ ĐIỀU KHIỂN BẰNG Ý NGHĨ TIỀM THỨC

Tinhte-chan-dieu-khien-bang-suy-nghi-5.
​
Hãng kỹ thuật cơ khí y sinh Össur tuyên bố đã phát triển thành công chiếc chân giả có thể điều khiển bằng ý nghĩ. Công nghệ này sử dụng các cảm biến tích cấy ghép trong cơ thể người, nhận tín hiệu tiềm thức từ não, truyền qua kết nối không dây tới máy tính trong chân giả, cho phép điều khiển nó theo thời gian thực. Bằng hệ thống này, người khuyết tật có thể phục hồi lại khả năng hoạt động, phản ứng một cách tự nhiên, nhanh chóng và chân thật hơn.

Từ cuối những năm 1960, người ta đã tìm được cách dùng các cảm biến thu thập xung điện từ cơ bắp để điều khiên tay chân giả. Tuy nhiên công nghệ này vẫn tồn đọng hạn chế nghiêm trọng: Xung điện cảm biến thu thập được không chỉ đến từ 1 cơ mà là rất nhiều cơ. Điều này khiến cho hiệu suất hoạt động suy giảm, đòi hỏi người dùng phải mất rất nhiều thời gian tập luyện để làm quen và điều khiển chi giả theo ý muốn. Do đó, không ít người khuyết tật đã từ chối giải pháp dùng chân tay giả chỉ vì không thể vượt qua những khó khăn trong quá trình "học sử dụng".

Tinhte-chan-dieu-khien-bang-suy-nghi-1.
Chiếc chân giả áp dụng công nghệ điều khiển bằng ý nghĩ tiềm thức do Össur phát triển đang được sử dụng bởi một tình nguyện viên trong thử nghiệm​

Tiếp theo, người ta đề xuất giải pháp ưu việt hơn để tăng độ chính xác cho cảm biến là suy nghĩ để điều khiển. Cách tiếp cận này đã được thực hiện thành công đối với chi trên và thậm chí là được dùng để điều khiển bàn tay nhân tạo. Tuy nhiên, nghịch lý ở đây là lại không thể áp dụng đối với chi dưới. Nguyên nhân là do chi trên được điều khiển bằng ý thức nhiều hơn so với bên dưới. Chúng ta sử dụng cánh tay và bàn tay để thực hiện nhiều động tác khác nhau từ đơn giản đến phức tạp. Ngược lại, chúng ta chỉ sử dụng chân để di chuyển nên chùng ta cũng ít mất nhiều ý thức để điều khiên nó. Về cơ bản, chân cần tự điều khiển bằng các phản xạ kích hoạt bởi tủy sống hơn là nhận lệnh trực tiếp từ não bộ.

Thí dụ, chúng ta có thể mang tất vào chân mà không nhận thức được những chuỗi chuyển động phức tạp do chân và cổ chân thực hiện. Khi đó, các bộ phận này chỉ đơn giản là thực hiện những hành động mà nó phải làm và dù không cần sự điều khiển từ não, nhưng chi dưới vẫn có thể thực hiện nhiều động tác phức tạp khác, như leo lên bậc thang chẳng hạn. Dựa trên nguyên lý này, công nghệ dùng ý nghĩ để điều khiển chân giả được thiết kế để tương thích với nhiều mức độ khuyết tật khác nhau, từ bàn chân, đầu gối cho tới cả cẳng chân. Các bộ phận giả này được "thông minh hóa" bằng hệ thống cảm biến và máy tính, cho phép nó có thể tự học theo thời gian thực và tự điều chỉnh để phù hợp với dáng đi, tốc độ của người dùng và điều kiện địa hình thực tế.

Tinhte-chan-dieu-khien-bang-suy-nghi-2.
Các cảm biến IMES sẽ được cấy ghép chính xác vào cơ bắp tại vị trí chi bị mất, kết hợp với bộ thu ở bên ngoài để thu thập xung điện và truyền về máy tính trung tâm trong chi giả​

Thành phần chính của hệ thống là bộ cảm biến cấy ghép Implanted MyoElectric Sensors (IMES) do quỹ Alfred Mann phát triển. IMES có kích cỡ 1 que diêm và sẽ được cấy ghép vào vị trí của chi bị mất. Trong khi đó, một bộ thu dạng sợi xoắn ốc nằm trong phần đầu nắp chụp của chi giả sẽ thu thập xung điện và truyền không dây về hệ thống máy tính trung tâm. Cùng với nhau, IMES và chân giả sẽ tạo thành một hệ thống điều khiển bằng cột sống nhân tạo. Thay vì người đeo sử dụng ý thức để điều khiển chuyển động của chân, họ sẽ gởi các lệnh trong tiềm thức để chi giả và bằng cách này, chuyển động sẽ được thực hiện. Để dễ hình dung, các bạn có thể xem thêm video mô tả hoạt động của hệ thống tại đây.

Tinhte-chan-dieu-khien-bang-suy-nghi-3.
Hệ thống có thể tự điều chỉnh tốc độ, tư thế cho phù hợp với dáng đi của ngươi dùng và điều kiện địa hình thực tế​

Người dẫn đầu dự án chân giả điều khiển bằng ý nghĩ Thorvaldur Ingvarsson cho biết: "Công nghệ này giúp những trải nghiệm của người dùng với chi giả trở nên thân thiện hơn và nó thật sự trở thành một phần trong cơ thể họ. Chi giả có thể phản xạ vật lý ngay lập tức theo ý muốn của người dùng. Họ không cần phải suy nghĩ về chuyển động muốn thực hiện bởi lẽ những phản xạ trong tiềm thức của họ sẽ được tự động chuyển thành xung điện, và dựa vào đó, chân giả sẽ đáp ứng ngay lập tức."

Hiện tại đã có 2 tình nguyện viên đã được cấy ghép công nghệ trên và theo dõi trong suốt 1 năm qua. Đây là một phần trong quá trình thử nghiệm lâm sàng trên người. Kết quả cho thấy cả 2 đều rất hài lòng với công nghệ này và muốn tiếp tục được sử dụng. Jon Sigurdsson, chủ tịch và CEO của Össur cho biết: "Chân giả điều khiển bằng ý nghĩ là một đột phá lớn về mặt lâm sàng trong sự phát triển của công nghệ Bionic. Bằng cách đáp ứng các suy nghĩ, không chỉ có chủ ý mà còn trong tiềm thức, những chiếc chi giả sẽ ngày càng trở nên gắn kết với người dùng, cho họ cảm giác như đó là một phần của cơ thể họ vậy."
​
Tham khảo PS, Össur
​
 

https://www.tinhte.vn/threads/buoc-dot-pha-moi-trong-viec-che-tao-chan-gia-dieu-khien-bang-y-nghi-tiem-thuc.2464837/

 

 

Thứ Hai, 25 tháng 5, 2015

[NGHIÊN CỨU] SỬ DỤNG KHÁNG SINH Ở TRẺ SƠ SINH CÓ THỂ DẪN ĐẾN MỘT SỐ BỆNH LÚC TRƯỞNG THÀNH

pill_antibiotic_kid. ​
Thuốc kháng sinh cho đến nay là loại thuốc được kê phổ biến nhất cho trẻ nhỏ. Chúng chiếm khoảng một phần tư trong tổng số tất cả các loại thuốc được kê cho trẻ. Trong đó, điều đáng lưu ý là một phần ba số đơn thuốc này là không thực sự cần thiết. Đáng quan ngại hơn cả, nghiên cứu mới đây được thực hiện bởi các nhà khoa học tại đại học Minnesota đã chỉ ra mối liên hệ tam giác (three-way link) giữa việc sử dụng kháng sinh ở trẻ sơ sinh với những biến đổi của các vi khuẩn đường ruột và các bệnh tật có thể xảy ra đối với những đứa trẻ này trong tương lai sau này. Theo đó, sự mất cân bằng của hệ vi sinh đường ruột (trạng thái dysbiosis) gây ra do sử dụng kháng sinh ở trẻ nhỏ sẽ có thể kéo theo các bệnh truyền nhiễm, dị ứng cũng như các rối loạn tự miễn dịch khác và thậm chí là cả bệnh béo phì lúc trưởng thành. Kết quả này đã được xuất bản trên tạp chí khoa học Cell Host & Microbe.

Được biết, các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra mối liên hệ của việc sử dụng kháng sinh với sự mất cân bằng hệ vi sinh đường ruột cũng như những ảnh hưởng đáng quan ngại cả trong ngắn hạn và dài hạn của kháng sinh đối với microbiome - sự đa dạng và cơ cấu của hệ vi sinh trong cơ thể người. Ngoài ra, các nghiên cứu khác cũng chỉ ra mối liên hệ giữa sự mất cân bằng này và các bệnh lý gặp phải khi trưởng thành. Tuy nhiên, trong hơn một năm làm việc, nhóm nghiên cứu đã tổng hợp hàng trăm nghiên cứu và tìm thấy các bằng chứng về mối tương quan mạnh mẽ giữa ba nhân tố gồm việc sử dụng thuốc kháng sinh với những biến đổi của vi khuẩn đường ruột cũng như các bệnh tật có thể xảy ra khi trưởng thành.

Tác giả chính của nghiên cứu, Dan Knights và đồng nghiệp của ông đã xây dựng một khung nhằm sơ đồ hóa tác động của thuốc kháng sinh tới đường ruột, từ đó giải thích vì sao chúng gây ra các bệnh lý trong tương lai. Ví dụ trong trường hợp dị ứng, việc sử dụng kháng sinh có thể tiêu diệt khuẩn đường ruột quan trọng giúp các tế bào miễn dịch trưởng thành. Những tế bào này cần thiết cho việc giữ hệ thống miễn dịch được bảo vệ khi gặp phải các chất gây dị ứng. Thậm chí, ngay cả khi những vi khuẩn này đã được phục hồi trở lại thì trạng thái suy giảm hệ miễn dịch vẫn còn tồn tại. Liên quan đến béo phì, những thay đổi do kháng sinh gây ra trong hệ vi sinh đường ruột dẫn đến sự gia tăng các mức axit béo chuỗi ngắn (short-chain fatty acids), từ đó ảnh hưởng đến việc trao đổi chất trong cơ thể.

Ngoài ra, nhóm cũng tiến hành xem xét sự phát triển của các vi khuẩn trong đường ruột. Theo đó, các nghiên cứu cho thấy tuổi của trẻ có thể được dự đoán dựa vào mức độ trưởng thành (maturity) của các khuẩn đường ruột với sai số trong khoảng 1.3 tháng. Với kết quả này, các thử nghiệm lâm sàng có thể được tiến hành để phát hiện những trẻ có microbiome không tương thích do ảnh hưởng của việc sử dụng kháng sinh hoặc do các yếu tố khác gây ra, từ đó đưa ra những can thiệp hợp lý khôi phục microbiome của trẻ.

“Chúng tôi mong rằng những phát hiện này sẽ giúp tạo nên những đường hướng cho nghiên cứu trong tương lai trong việc xác định những hậu quả liên quan đến sức khỏe do kháng sinh gây ra, đồng thời giúp đưa ra những khuyến nghị trong việc kê đơn các loại thuốc này” Knights cho biết.

Nguồn: Sciencedaily​

[KHOA HỌC] LIỆU CHỈ 1 CẶP VỢ CHỒNG CÓ THỂ TẠO RA CẢ THẾ GIỚI SAU THẢM HỌA DIỆT VONG?

Tinhte-couple.
Ảnh minh họa
​
Các bộ phim khoa học viễn tưởng thường đưa ra tình huống một cơn thảm họa ập xuống và Trái Đất chỉ còn lại một (hoặc vài) cặp vợ chồng sống sót. Sau đó họ dần xây dựng lại cuộc sống và làm dân số thế giới sinh sôi nảy nở thêm 1 lân nữa. Liệu điều đó có thật sự khả thi? Theo giáo sư di truyền học Nolan Kane tại Đại học Colorado Boulder: Điều đó là có thể, nhưng các cặp đôi sống sót sẽ phải rất, rất… bận rộn và phải cực kỳ may mắn.

Con người luôn lo sợ các thảm họa tự nhiên như sóng thần, thiên thạch va vào, biến đổi khí hậu,… sẽ đột ngột ập tới khiến cho phần lớn loài người sẽ diệt vong. Đây có thể không phải là mối đe dọa quá lớn đối với những loài sinh vật khác do chỉ cần một vài cá thể tồn tại, loài đó vẫn được duy trì và có cơ hội tái sinh thành quần thể. Giáo sư Kane đưa ra ví dụ về loài bồ công anh, một điển hình của việc sinh sôi nảy nở từ một vài hạt giống ban đầu. Ông nhận định: "Một hạt giống bồ công anh có thể tạo ra hàng nghìn hạt khác mang bộ mã di truyền giống hệt nhau và lan tỏa với cấp số nhân. Nhưng đáng tiếc con người không phải là bồ công anh, chúng ta cần một người khác giới và hơn 9 tháng để tái sản xuất."

Trong tình huống dân số loài người suy giảm nghiêm trọng, giáo sư Kane cho rằng điều đó sẽ dẫn tới một vấn đề nghiêm trọng mà ông gọi là "hiệu ứng sáng lập". Khi một nhóm nhỏ bị cô lập ra khỏi một quần thể lớn, những đặc điểm di truyền lặn và thường có hại sẽ trở nên phổ biến. Nguyên nhân ở đây là số lượng ít ỏi những "người sáng lập" khiến cho sự đa dạng của tổ hợp di truyền cũng bị giới hạn. Hiện tại, chúng ta đã chứng kiến các quần thể dân cư bị cô lập, điển hình như người Amish tại Pennsylvania có tỷ lệ mắc dị tật thừa ngón rất cao (polydactyly - dị tật có thêm các ngón tay, ngón chân phụ). Tương tự như vậy, tại hòn đảo Pingelap nằm biệt lập trên Thái Bình Dương, có tới 5% dân cư bị mù màu.

Do đó, nếu chỉ có 1 người đàn ông duy nhất sống sót nhưng mắc căn bệnh di truyền Celiac (bệnh tiêu hóa gây tổn thương ruột non và cản trở hấp thụ các chất dinh dưỡng từ thức ăn) thì không chỉ mình anh ấy không thể hấp thu gluten mà chắc chắn, toàn bộ "nhân loại" được tạo thành sao đó cũng bị giống vậy. Và Celiac chỉ là một ví dụ điển hình trong số rất nhiều căn bệnh di truyền (như thiếu máu do có hồng huyết cầu hình liềm) có khả năng tàn phá sự sống của các cư dân mới.

Jeff Wall, phó giáo sư dịch tễ và thống kê sinh học tại Đại học California cho biết: "Có một lý do giải thích tại sao luật pháp lại cấm hôn nhân cận huyết. Mỗi lần chúng ta tạo ra một đứa trẻ thì cơ chế di truyền lại có cơ hội mắc khiếm khuyết và tỷ lệ này sẽ tăng đáng kể nếu các cá thể kém đa dạng di truyền giao phối với nhau. Nếu toàn bộ thế giới chỉ còn sót lại có 2 người, bạn cần nhiều lần có sự may mắn trong trò chơi "xổ số di truyền". Và như các bạn cũng biết, tỷ lệ trúng số chưa bao giờ cao. Hơn thế nữa, một sự thay đổi đột ngột của môi trường có thể khiến cho 2 người sống sót chết trước khi đứa trẻ được sinh ra. Ngay cả khi họ tránh được các hiểm họa từ môi trường bên ngoài, sự kết hợp giữa các gen bên trong có thể tạo ra một đứa bé mắc bệnh tim bẩm sinh. Trong điều kiện không có sự chăm sóc y tế, đó có thể sẽ là cá thể cuối cùng của loài người."

Chính vì các cơ chế di truyền của con người nên nhiều nhà khoa học nghi ngờ rằng nếu có thảm họa thật sự ập đến thì có lẽ, loài người sẽ không thể trụ nổi qua vài thế hệ. Tuy nhiên, tất cả trên đây chỉ là giả thuyết và hãy lạc quan lên, con người luôn tìm được cách phòng vệ, ngăn chặn thảm họa diệt vong trước khi nó xảy ra. Và có chăng, nếu ngày tận thế của Trái Đất ập đến thì nó cũng sẽ giống như lúc nó mới bắt đầu.

Tham khảo PS
​
 

https://www.tinhte.vn/threads/khoa-hoc-lieu-chi-1-cap-vo-chong-co-the-tao-ra-ca-the-gioi-sau-tham-hoa-diet-vong.2464268/

 

 

 

Chủ Nhật, 24 tháng 5, 2015

LÝ GIẢI CẢNH PHUN XĂNG VÀO HỌNG HÚT GIÓ ĐỂ XE CHẠY NHANH HƠN TRONG PHIM MAD MAX

Mad max.

Không biết anh em xem phim Mad Max (tiếng Việt là Max Điên) có để ý một cảnh khá là thú vị và thoạt trông thì có vẻ hơi hư cấu trong phim hay không. Đó là khi nhân vật Nux và Max thay phiên nhau phun xăng vào họng hút gió đi vào bộ siêu nạp của động cơ và rồi chiếc War Rig bỗng dưng chạy nhanh hơn, thậm chí pô còn nẹt ra lửa nữa.

Thú thật là lúc xem phim chi tiết này cứ lởn vởn trong đầu mình thế quái nào phun xăng vào họng hút gió mà động cơ tự nhiên mạnh lên được. Nó trái ngược lại với những lý thuyết về xe cộ mà mình biết được. Sau khi về tìm hiểu thì mình rất vui để lý giải những tình huống này cho anh em nào có cùng thắc mắc giống mình.

MMFR_WarRig876x534.

Chiếc xe bồn War Rig trong phim sử dụng 2 động cơ siêu nạp V8. Tại sao mình biết? Thứ 1 vì trong phim có nhiều lần các nhân vật có nhắc đến chi tiết động cơ V8, một trong số đó là lần 1 động cơ bị hỏng do quá nhiệt và Nux phải bắt tay vào sửa chữa van bị nứt. Thứ 2 là theo những kiến thức mình biết thì loại họng hút gió trên nắp ca pô chiếc xe là đặc trưng của bộ phận siêu nạp (kiểu roots) rất thông dụng trên những chiếc xe cơ bắp độ ở Mỹ.

Mình sẽ nói sơ về lý thuyết động cơ siêu nạp. Như các bạn cũng biết thì để động cơ sinh công và xe chạy được thì cần phải đưa vào buồng đốt (xy lanh) hỗn hợp cháy, gồm không khí và xăng. Bộ phận siêu nạp vừa nói trên là để nén không khí lại ở mức dày đặc hơn cách hút khí tự nhiên thông thường. Từ đó đưa được nhiều lượng không khí vào buồng đốt hơn, tỉ số nén của hỗn hợp cháy cao hơn và kết quả là động cơ sẽ sinh ra công suất mạnh hơn.

Phun xăng vào họng hút có tăng sức mạnh?

Về lý thuyết thì hỗn hợp cháy sẽ có 3 dạng: nghèo, lý tưởng và giàu. Nghèo là khi lượng không khí/nhiên liệu lớn hơn tỉ lệ 14,7:1 (dư không khí, nghèo nhiên liệu), giàu là khi lượng không khí/nhiên liệu nhỏ hơn tỉ lệ 14,7:1 (nghèo không khí, dư nhiên liệu), lý tưởng là khi không khí/nhiên liệu bằng 14,7:1. Các bạn chỉ cần biết là tỉ lệ lý tưởng sẽ cho hiệu suất hỗn hợp cháy tốt nhất, còn nghèo hay giàu thì sẽ làm động cơ hoạt động không được đúng công suất thiết kế và có hại cho máy.

Ở những xe sử dụng hệ thống hút khí cưỡng bức, ở đây là siêu nạp thì tỉ lệ trộn hỗn hợp cháy thường nghiêng về dạng nghèo. Cộng với lại những chiếc xe trong phim đều là những chiếc xe rất cũ thì giả thiết đặt ra là hệ thống bơm phun nhiên liệu cũng xuống cấp và không cung cấp cấp đủ nhiên liệu vào hỗn hợp cháy khiến tình trạng nghèo nhiên liệu thêm nghiêm trọng. Chính vì thế việc phun xăng qua họng hút gió để cung cấp thêm xăng vào buồng đốt là hoàn toàn có thể xảy ra để làm cho hỗn hợp cháy lý được tưởng hơn và kéo theo việc xe cũng mạnh hơn.

Tuy nhiên, trong thực tế việc phun xăng qua họng hút gió vào động cơ nếu có thì cũng chỉ tăng thêm một phần sức mạnh không đáng kể và rất khó cảm nhận được chứ không như trong phim. Cứ như ông già tăng lực bằng Viagra hay xe độ phun khí nitrous oxide (NOS) mà các bạn đua Need For Speed chắc rõ hơn ai hết.

Phun xăng vào họng hút làm pô nẹt lửa?

Điều này là hoàn toàn có thể xảy ra. Sự thật thì trong các chu kỳ hoạt động của buồng đốt (xy lanh) sẽ luôn có thời điểm mà van nạp (không khí, nhiên liệu) và van xả (hỗn hợp cháy) mở cùng lúc. Và lượng xăng phun vào qua họng hút nếu vào thời điểm này sẽ trở thành lượng nhiên liệu dư, không nổ trong buồng đốt và đi vào hệ thống pô của xe. Tại hệ thống pô, nhiệt độ cao sẽ làm lượng xăng dư này cháy và trở thành lửa phụt ra. Hiện tượng này trong kỹ thuật xe gọi là (after fire) và thường thấy trên những chiếc siêu xe khi chúng nẹt pô ở tua cao.

Mà phun lửa như trong phim thì thú thật cũng còn hư cấu lắm.

mad-max-fury-road-trailer_100494094_h.

Khả năng khác

Có vài anh bạn cũng rất am hiểu về kỹ thuật cơ khí xe hơi bổ sung thêm rằng chưa chắc chất chúng ta thấy Nux và Max trong phim phun vào đã là xăng, mà nó có thể là nước hoặc methanol. Anh em sẽ rất ngạc nhiên vì nước mà đưa vào buồng đốt thì chắc chắn sẽ xảy ra hiện tượng thủy kích. Tuy nhiên đó là với lượng nước lớn, còn với lượng nước nhỏ thì nó lại có tác dụng làm mát hỗn hợp cháy (chính xác là buồng đốt) và tăng thêm tỉ số nén của xy lanh. Có nghĩa là nó sẽ giúp xe hoạt động mạnh hơn nhưng cũng mát hơn.

Thật ra vụ thêm 1 lượng nước vào buồng đốt đã có từ rất lâu trong lĩnh vực hàng không rồi và nó được biết với tên là Water Injection. Trong thế chiến thứ II, một số máy bay chiến đấu được trang bị hệ thống gọi là War Emergency Power (Sức mạnh khẩn cấp). Chỉ với 1 nút bấm, một lượng nước phù hợp sẽ đưa vào hỗn hợp cháy và "trợ lực" cho động cơ, làm cho máy bay bay nhanh hơn.

Mới đây hãng linh kiện Bosch của Đức vừa công bố họ đã thành công trong việc ứng dụng công nghệ Water Injection cho động cơ xe hơi. Kết quả là giúp cải thiện mức tiết kiệm nhiên liệu 13%.

Các bạn có thể tìm hiểu về Water Injection (engine) tại đây: Wiki
 

https://www.tinhte.vn/threads/vui-ve-ly-giai-canh-phun-xang-vao-hong-hut-gio-de-xe-chay-nhanh-hon-trong-phim-mad-max.2464026/

 

 

Thứ Bảy, 23 tháng 5, 2015

TRÒNG KÍNH SINH HỌC OCUMETICS: CẤY GHÉP 8 PHÚT, PHỤC HỒI THỊ LỰC 20/20, DÙNG ĐƯỢC 25 NĂM

Tinhte-kinh-sat-trong-sinh-hoc-1. ​

Bác sĩ nhãn khoa Garth Webb tại British Columbia đã phát triển thành công chiếc kính sát tròng sinh học Ocumetics Bionic Lens, giúp các bệnh nhân mắc tật khúc xạ có thể phục hồi lại thị lực 20/20 sau ca phẫu thuật cấy ghép kéo dài chỉ 8 phút nhằm thay thế cho thủy tinh thể cũ. Mặt khác, bệnh nhân sau khi cấy ghép sẽ không bao giờ mắc chứng đục thủy tinh thể do tròng sinh học sẽ tự phân hủy dần dần và có thể thay mới khi cần thiết.

Ocumetics Bionic Lens có hình dạng như một chiếc nút nhỏ, được cuộn tròn lại rồi "tiêm" vào mắt người cùng với dung dịch nước muối sinh học và sẽ tự bung ra, cố định chính xác vị trí trong vòng 10 giây. Sau ca phẫu thuật cấy ghép kéo dài 8 phút, người bệnh sẽ được phục hồi thị lực gần như ngay lập tức và kéo dài hiệu quả trong ít nhất là 25 năm (đối với người trưởng thành). Đây là kết quả sau 8 năm nghiên cứu với tổng chi phí 3 triệu đô la của bác sĩ Webb và các cộng sự. Bác sĩ Webb cho biết: "Đây là phương pháp cải thiện thị lực chưa từng có trước đây. Nếu bạn bình thường bạn chỉ có thể nhìn rõ vật thể ở khoảng cách chưa tới 3 mét thì sau khi được cấy tròng sinh học, bạn có thể nhìn rõ đồng hồ ở khoảng cách gần 10 mét."

Tinhte-kinh-sat-trong-sinh-hoc-2.JPG
Kính sinh học có kích thước như một chiếc nút nhỏ, có thể cuộn tròn lại và "tiêm" vào mắt người cùng với dung dịch nước muối sinh học, cố định chính xác vị trí trong vòng 10 giây​

Mặc dù đây là một công nghệ đầy sự hấp dẫn và hứa hẹn, nhưng sản phẩm vẫn phải tiếp tục trải qua nhiều thử nghiệm trước khi chính thức thương mại hóa trong tương lai. Hiện tại, nhóm đang tiến hành các thử nghiệm trên động vật và những người mù. Theo kế hoạch, nếu quá trình diễn ra suôn sẻ thì sản phẩm cuối cùng sẽ được phát hành rộng rãi sớm nhất là vào năm 2017. Đây không chỉ là một phương pháp hữu hiệu để phục hồi khả năng nhìn cho những người có thị lực kém, mà còn hứa hẹn sẽ thay đổi toàn bộ diện mạo của ngành công nghiệp mắt kính hoặc các sản phẩm hỗ trợ thị lực trong tương lai.

Tham khảo CBC
​
 

https://www.tinhte.vn/threads/trong-kinh-sinh-hoc-ocumetics-cay-ghep-8-phut-phuc-hoi-thi-luc-20-20-dung-duoc-25-nam.2463941/