Thứ Hai, 6 tháng 1, 2014

NỮ DANH CA HÀ THANH ĐÃ RA ĐI

TTO - Ca sĩ Hà Thanh đã qua đời lúc 7g27 đêm 1-1 (giờ địa phương, tức sáng 2-1 giờ VN) tại TP Boston, tiểu bang Massachusetts (Mỹ) sau thời gian bị ung thư máu.

Ca sĩ Hà Thanh thời trẻ - Ảnh tư liệu
Tối 2-1, bà Trần Thị Tử Chi (TP Huế) đau buồn cho biết ca sĩ Hà Thanh, người ca sĩ tài danh chị ruột của bà, đã mất lúc 7g27 đêm 1-1 (giờ địa phương, tức sáng 2-1 giờ VN) tại TP Boston, tiểu bang Massachusetts (Mỹ) sau thời gian bị ung thư máu.
Theo nguồn tin từ gia đình cũng như nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân, ca sĩ Hà Thanh tên thật là Trần Thị Lục Hà, sinh năm 1939 ở Huế, theo học Trường Đồng Khánh.
Giữa thập niên 1950, trong cuộc tuyển lựa ca sĩ do Đài phát thanh Huế tổ chức, Lục Hà đã đạt giải nhất với sáu bài hát khó, trong đó có bài Dòng sông xanh (nghệ danh Hà Thanh xuất phát từ bản nhạc này).
Thành danh ở Huế, sau đó vào Sài Gòn sinh sống và hoạt động nghệ thuật từ năm 1963, đến năm 1982 ca sĩ Hà Thanh sang Mỹ định cư theo diện đoàn tụ gia đình.
Nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân nhận định: “Hà Thanh với giọng Oanh vàng số 1 được xem là nữ ca sĩ tiêu biểu nhất của Huế thế kỷ 20”.
Tên tuổi của Hà Thanh gắn liền với rất nhiều ca khúc bất hủ của VN như Tiếng xưa, Đêm tàn Bến Ngự (Dương Thiệu Tước), Suối mơ, Bến xuân (Văn Cao), Đêm đông (Nguyễn Văn Thương), Hoa xuân (Phạm Duy), Em đến thăm anh một chiều mưa (Tô Vũ), Từ Đàm quê hương tôi (Văn Giảng), Khúc tình ca xứ Huế (Trần Đình Quân), Ai lên xứ hoa đào và Tà áo tím (Hoàng Nguyên), Cô nữ sinh Đồng Khánh (Thu Hồ)…
Được biết, tại Boston những năm cuối đời, Hà Thanh chủ yếu hát nhạc Phật giáo, đã phát hành nhiều đĩa nhạc, đặc biệt là đĩa Phật ca Nhành dương cứu khổ được cộng đồng người Việt ở Mỹ đón nhận.
THÁI LỘC
http://www.baomoi.com/Nu-danh-ca-Ha-Thanh-da-ra-di/71/12814545.epi 


'Hoạ mi xứ Huế' Hà Thanh qua đời ở tuổi 77 

BOSTON, Massachusetts (NV) - Ca sĩ Hà Thanh, từng được mệnh danh là “họa mi xứ Huế,” vừa qua đời ngày 1 Tháng Giêng tại Boston, Massachusetts, ca sĩ Hoàng Oanh, một trong những người bạn thân thiết và lâu năm của người quá cố, xác nhận với nhật báo Người Việt.

Ca sĩ Hà Thanh ở Washington, D.C., năm 1996. (Hình: Huy Phương/Người Việt)
“Tôi rất xúc động và hơi bàng hoàng, không tin là sự thật (ca sĩ Hà Thanh qua đời),” ca sĩ Hoàng Oanh nói. “Tôi phải hỏi người này người kia, lúc đó tôi mới biết chị đã ra đi.”

Ca sĩ Hoàng Oanh cho biết thêm: “Tôi với chị Hà Thanh là bạn nghệ sĩ thân tình, thường thăm hỏi lẫn nhau. Hôm Tết Tây, tôi gọi điện thoại sang Boston để hỏi thăm và chúc năm mới chị thì mới được gia đình cho hay chị mất vào lúc 7 giờ 27 phút tối.”
Ca sĩ Hoàng Oanh cho biết có nhiều kỷ niệm với cố ca sĩ Hà Thanh, nhưng nhớ nhất là chuyến đi lưu diễn ở Pháp năm 1969.

“Hoàng Oanh nhớ lúc đó gọi là Ðoàn Văn Nghệ, Bộ Thông Tin VNCH,” nữ ca sĩ Hoàng Oanh hồi tưởng. “Ðoàn có hai nhóm, cải lương và tân nhạc. Bên cải lương thì diễn trong rạp, và do cố nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ phụ trách. Nhóm chúng tôi là tân nhạc, gồm có nhạc sĩ Huỳnh Anh (guitar), nhạc sĩ Vĩnh Phan (đàn tranh), và nhạc sĩ Nguyễn Ðình Nghĩa (sáo). Ca sĩ thì có chị Hà Thanh, cá nhân tôi, và ban nhạc AVT. Chúng tôi đi trình diễn ở tám tỉnh và thường hát cho kiều bào và sinh viên Việt Nam nghe.”

Theo Wikipedia.org, ca sĩ Hà Thanh tên thật là Trần Thị Lục Hà, Pháp Danh Tâm Từ, sinh ngày 25 Tháng Bảy, 1937 tại Liễu Cốc Hạ, huyện Hương Trà, Thừa Thiên Huế. Bà là con thứ tư trong một gia đình gia giáo có 10 anh chị em mà không một người nào đi theo con đường văn nghệ, ngoài một người anh tỏ ra khuyến khích bà khi nhận thấy cô em mình có biệt tài ca hát.

Hồi còn nhỏ, bà theo học trường nữ trung học Ðồng Khánh và đã hát trong chương trình Tiếng Nói Học Sinh Quốc Học-Ðồng Khánh trên đài phát thanh Huế.

Năm 16 tuổi, Lục Hà tham dự cuộc tuyển lựa ca sĩ do đài phát thanh Huế tổ chức, và đoạt giải nhất, qua sáu nhạc phẩm, trong đó có bài “Dòng Sông Xanh”. Nghệ danh Hà Thanh ra đời cũng từ đây, và bà tiếp tục vừa đi học vừa hát cho đài phát thanh.
Năm 1963, trong chuyến vào thăm Sài Gòn, ca sĩ Hà Thanh được các trung tâm đĩa nhạc Continental, Tân Thanh, Sóng Nhạc, Asia, Việt Nam mời thu thanh nhiều nhạc phẩm, và hai năm sau, chính thức gia nhập sinh hoạt ca nhạc ở Sài Thành, và trở thành một trong những giọng ca hàng đầu của thủ đô hồi đó.

Tiếng hát Hà Thanh thường xuyên được nghe trên các đài phát thanh Sài Gòn, Quân Ðội, Tự Do, trong các chương trình đại nhạc hội... và rất nổi tiếng với những nhạc phẩm của nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông.

Về biệt danh “họa mi xứ Huế,” trong một bài viết đăng trên nhật báo Người Việt hồi Tháng Sáu năm ngoái, ca sĩ Quỳnh Giao viết như sau: “Hà Thanh có được Huế cưng quý như vậy trước hết là nhờ giọng ca thiên phú, trong trẻo cao vút. Ðây là một trong vài giọng soprano hiếm có của Việt Nam. Hà Thanh hát dễ dàng như hơi thở. Khi lên cao, giọng lồng lộng, thoải mái cho chúng ta cảm tưởng chiếc diều phơi phới trên nền trời xanh ngắt.”

“Vì sao lại so sánh với cánh diều? Chính vì chất giọng trong trẻo nhẹ nhàng làm mình liên tưởng đến trời xanh và nắng ấm,” theo ca sĩ Quỳnh Giao.

Ca sĩ này viết tiếp: “Vì trình độ thưởng ngoạn, nhiều người cứ khen làn hơi rất mạnh. Không thiếu gì ca sĩ thời nay hay khoe làn hơi ‘mạnh’ vì thấy hát trổ giọng lại càng được vỗ tay và huýt sáo vang lừng! Trong nghệ thuật thì khác, hát nhẹ và êm mà vẫn rõ lời mới là điều khó. Khi hát nhẹ, ca sĩ phải ‘kìm’ làn hơi để phả từ từ, nhẹ nhàng mà vẫn đều đặn. Khó nhất là lúc ngân cho câu nhạc nhỏ dần, đến khi chỉ bằng sợi tơ mong manh mà không đứt, không tắt.”

Theo ca sĩ Quỳnh Giao, nhờ hát như vậy mà ca sĩ Hà Thanh được các nhạc sĩ sáng tác trân quý và yêu cầu bà hát những tác phẩm tim óc của họ.

Ca sĩ Quỳnh Giao cho biết tiếp, chính nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông để mắt xanh đến Hà Thanh ngay lần đầu được nghe bà từ Huế vào Sài Gòn thăm người em gái, đến phòng thu của hãng đĩa hát thử. Quả là nhạc của ông đã được giọng hát Hà Thanh chắp cánh bay cao.

Trịnh Công Sơn khi còn ở Huế đã đưa những ca khúc chưa ráo mực đến nhờ Hà Thanh hát, theo ca sĩ Quỳnh Giao, và “họa mi xứ Huế” đã đưa “Nắng Thủy Tinh,” “Lời Mẹ Ru,” hay “Nhìn Những Mùa Thu Ði” vang vọng đất Thần Kinh (Huế).

Theo tác giả bài viết, Dương Thiệu Tước cũng thích và Hoàng Trọng cũng mến Hà Thanh, Tuấn Khanh thì “mê” giọng hát này nhất, nhưng thính giả ở Huế quá ít, phải đợi khi vào Sài Gòn thì Hà Thanh mới có đất dụng võ.
––
Liên lạc tác giả: DoDzung@nguoi-viet.com
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=180127&zoneid=1#.UsqaYfsxUe4

CA SỸ HÀ THANH VỪA QUA ĐỜI

(SHO) Ca sĩ Hà Thanh vừa mất lúc 7g27 đêm 1-1 (giờ địa phương, tức sáng 2-1 giờ VN) tại TP Boston, tiểu bang Massachusetts (Mỹ) sau thời gian mắc bệnh ung thư máu.
Ca sỹ Hà Thanh vừa qua đời
Ảnh: internet
Ca sĩ Hà Thanh, quê quán Liễu Cốc Hạ, xã Hương Toàn, huyện Hương Trà. Tên thật là Trần Thị Lục Hà, sinh năm 1939 ở Huế, nữ sinh Trường Đồng Khánh.
Giữa thập niên 1950, trong cuộc tuyển lựa ca sĩ do Đài phát thanh Huế tổ chức, Lục Hà đã đạt giải nhất với sáu bài hát khó, trong đó có bài Dòng sông xanh , và nghệ danh Hà Thanh xuất phát từ bản nhạc này. Hà Thanh được xem là nữ ca sĩ tiêu biểu nhất của Huế thế kỷ 20. Tên tuổi của ca sỹ Hà Thanh gắn liền với nhiều ca khúc bất hủ của VN như Hoa xuân (Phạm Duy), Em đến thăm anh một chiều mưa (Tô Vũ), Từ Đàm quê hương tôi (Văn Giảng), Khúc tình ca xứ Huế (Trần Đình Quân), Ai lên xứ hoa đào và Tà áo tím (Hoàng Nguyên), Cô nữ sinh Đồng Khánh (Thu Hồ), Tiếng xưa, Đêm tàn Bến Ngự (Dương Thiệu Tước), Suối mơ, Bến xuân (Văn Cao), Đêm đông (Nguyễn Văn Thương), … 
Tại Boston, Hà Thanh chủ yếu hát nhạc Phật giáo, đặc biệt có đĩa Phật ca Nhành dương cứu khổ được cộng đồng người Việt ở Mỹ đón nhận.
SH xin chia buồn cùng gia đình và quý bạn đọc. Cũng nhân dịp này, xin giới thiệu bài viết về Ca sỹ Hà Thanh của nhà văn Trần Kiêm Đoàn, người gọi ca sỹ là “bà chị” trong dòng họ Trần Kiêm nổi tiếng ở Liễu Cốc Hạ
SH
HÀ THANH TIẾNG HÁT CỦA DÒNG SÔNG XANH
Trần Kiêm Đoàn

     
 
 

Gọi tên hoa súng: LỤC HÀ
Gọi thôn LIỄU HẠ: quê nhà bên sông
Gọi TRẦN KIÊM: họ sắc... không
Gọi HÀ THANH: tiếng hát dòng Hương Giang
Có hai gã Trần Kiêm lang bạt xa quê gặp nhau bên trời Tây cùng nói về một nhân vật. Thi sĩ Kiêm Thêm nói về "mụ O" và tôi nói về "bà Chị" nghệ sĩ của mình là ca sĩ Hà Thanh bằng một mẫu "sơ yếu lý lịch" hợp soạn hòa âm rất chơn chất và... nên thơ như thế đó.
Thuở nhỏ ở làng Liễu Hạ, tôi thường lên mặt hãnh diện khi cuối tuần ngồi quanh cái "Ra-dô" ở làng với bọn nhóc tì trong xóm nghe chương trình ca nhạc của ban Việt Thanh[1] ở đài phát thanh Huế, mà trong đó, Hà Thanh, bà chị họ của tôi, là ca sĩ... hát hay nhất. Nhóm bình luận gia âm nhạc chân đất làng tôi từ sáp nhỏ cho đến người lớn chẳng biết có mang hội chứng "trái ấu" [2] hay không nhưng ai cũng xuýt xoa khen giọng hát Hà Thanh thuở đó là "hay nhứt xứ."
Làng Liễu Hạ và họ Trần nhà tôi -- có lẽ luôn cả Huế -- hầu hết là những rặng thông già kẻ sĩ không lớn kịp với mùa Xuân nghệ sĩ đang lên. Đó là hiện tượng nghịch lý rằng, ai cũng mến mộ giọng hát của Hà Thanh, nhưng lại ái ngại khi một cô nữ sinh xinh đẹp xứ Huế, ái nữ của một gia đình nho phong "êm đềm trướng rủ màn che" trở thành ca sĩ. Nhất là dòng họ Trần Kiêm chúng tôi có bác Trần Kiêm Phổ làm trưởng tộc thì lại càng quan tâm nhiều hơn. Bác "Trợ Phổ", thân phụ của chị Hà Thanh, với dung mạo uy nghi, thường cầm cân nẩy mực cho cả dòng họ, nay lại cho phép chị Hà đi hát công khai trên đài phát thanh, thì quả là một cuộc "đại cách mạng" trong quan niệm truyền thống còn mang nhiều định kiến của đất lề quê thói rất Huế đương thời.
Ngày đó, khu nhà vườn cổ kính ở mé này nhánh sông Hương nối liền với sông An Cựu nắng đục mưa trong; ngó qua mé bên tê sông là trường Pellerin vẫn thường được giới nam nhi Huế ròng và Huế "bậu" -- bắt chước Lan Đình gọi là "Vườn Thúy Hạnh"[2*] -- vì một nhà mà có nhiều hơn cả "ngũ long công chúa", đều mang tên chữ có bộ thảo và rất chi là... tường Đông ong bướm đi về mặc ai: Tố Cần, Hà Thanh, Phương Thảo, Liên Như, Thúy Vy, Bạch Lan, Hoàng Mai.
Đời nghệ sĩ của Hà Thanh bắt đầu từ năm 1953, lần đầu đài Phát Thanh Huế mở một cuộc tuyển lựa ca sĩ với quy mô lớn. Anh Trần Kiêm Tịnh biết cô em gái mình có giọng hát hay quá nên đã dắt em đi thi. Điều kiện ghi danh dự thi là phải từ 15 tuổi trở lên. Ngày đó, Lục Hà, cô nữ sinh áo trắng nón bài thơ Huế mới 14 tuổi, nên phải "kiếm thêm một tuổi trời cho" nữa mới đủ tuổi dự thi và kết quả đứng đầu cuộc thi. Tuy ông cụ thân sinh chị Hà Thanh là người theo Tây học với tinh thần cởi mở phương Tây, nhưng "phương Tây Huế" thuở đó cũng vẫn còn trong mẫu mực nho phong. Nhạc sĩ Ngô Ganh là giám đốc đài phát thanh Huế đương thời, phải dùng uy tín của mình đến nhà năn nỉ, rằng: "Học hành thì đứa nào học chẳng được, nhưng còn cái tài của cháu Hà Thanh là một tài năng độc đáo, có giá trị trong cả nước Việt Nam. Nếu không cho đi hát thì tài năng sẽ bị mai một đi, uổng lắm." Ông cụ nghe lời minh giải hợp lý nên cho đi hát ở đài phát thanh mà thôi, không hát ở phòng trà hay sân khấu. Từ đó, tiếng hát Hà Thanh đã vọng ra xa hơn bên ngoài rào dậu Vườn Thúy Hạnh.
Người ta vừa thưởng thức giọng hát thanh thoát, mượt mà (uyển thanh) như tiếng sông Hương đang lên của Hà Thanh; nhưng đồng thời cũng vừa quan sát nàng ca sĩ xứ Huế đó như một hiện tượng.
 
Nói về giọng hát thiên phú của Hà Thanh đã có rất nhiều văn nhân, thi sĩ, nhạc sĩ... nhiệt thành khen tặng. Một vị thầy âm nhạc của tôi ở trường Hàm Nghi Huế là nhạc sĩ Văn Giảng (cũng ký tên là Thông Đạt, tác giả Ai Về Sông Tương...) đã cho rằng, Hà Thanh là một ca sĩ tiêu biểu của Huế. Chị có một giọng hát thanh tao, quý phái với mức thể hiện cường độ và trường độ âm thanh vừa vặn, diễn cảm tuyệt vời. Đặc biệt là những luyến láy mềm mại rất có hồn và gợi cảm trong tiếng ca.
Luyến láy mà không làm điệu tới mức uốn lượn quanh co thành ra làm dáng trình diễn là nét độc đáo nhất trong tiếng ca Hà Thanh.
Nhân dáng, điệu bộ trình diễn và phong cách sinh hoạt đời thường cũng như trong hội diễn vẫn bị xem là một "đại nghiệp dĩ" của người ca sĩ. Nếu như nói theo Đào Uyển Minh, nhà phê bình nghệ thuật Đài Loan khi nhận định về Quỳnh Dao, thì phong thái của một nghệ sĩ là "sự biểu hiện cụ thể của một chuỗi phản ứng tâm lý có điều kiện khi tài năng thiên phú đối mặt và tương tác với trình độ giáo dục, hoàn cảnh xã hội và xu hướng nghệ thuật của thời đại"[3] thì quan niệm nầy có vẻ sát hợp với Hà Thanh. Chị sinh ra và lớn lên ở Huế. Huế được người đời nhớ nhung và yêu thương không chỉ vì Huế đẹp, Huế thơ mà còn vì Huế là vùng đất của nhiều tai trời ách nước; chịu nhiều oan khiên và đổ vỡ tan tác từ thuở công chúa Huyền Trân đổi mình cho Huế, áo xiêm phiêu bạt về Chiêm quốc. Cho nên, hầu như tất cả nghệ sĩ xứ Huế đều không có sự biểu hiện táo bạo, vỡ bờ, chinh phục để cuốn hút khách thưởng ngoạn qua dáng vẻ bên ngoài. Đấy cũng là cảm nhận của Thu Bồn, một nhà thơ xứ Quảng: "... sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu."
Nhà thơ Nhất Tuấn, tác giả "Chuyện Chúng Mình" vang tiếng một thời, nói về Hà Thanh như sau: "Tôi có dịp gặp Hà Thanh khi làm quản đốc đài Phát Thanh Quân Đội (1968) tại Sài Gòn. Hà Thanh lúc đó hát rất hay và xuất hiện thường xuyên trên các đài VOF, Mẹ Việt Nam, đài Sài Gòn, đài Quân Đội. Hà Thanh càng ngày càng nổi tiếng. So với những ngày còn ở Huế, sự giao thiệp của Hà Thanh có phần bạo dạn hơn đôi chút, nhưng vẫn còn dè dặt và giới hạn lắm. Thời này Hà Thanh hát nhiều bài của Nhất Tuấn do Phạm Duy, Đan Thọ, Hoàng Lan phổ nhạc. Đặc biệt là Hà Thanh hát rất nổi tiếng những nhạc phẩm của Nguyễn Văn Đông và nhạc tiền chiến của Đoàn Chuẩn, Từ Linh. Bài nào Hà Thanh hát lên cững làm người nghe rung động vì khi hát nàng để hết tâm hồn vào lời thơ, ý nhạc của tác giả muốn gởi gắm trong bài. Hà Thanh như 'nhập' vào bài hát để diễn tả, để làm toát lên giọng Huế rất dễ thương."[4]
Tác giả Chuyện Chúng Mình mô tả Hà Thanh: "Dáng người thanh tú, cao cao, nụ cười vui tươi luôn nở trên môi với nét mặt rạng rỡ. Tính nết Hà Thanh nhu mì, hiền dịu, khác biệt trong giới nghệ sĩ."[5]
Và nhà thơ Tôn Nữ Hỷ Khương đã "phong Huế" cho Hà Thanh, rằng: "Dáng nhỏ nhắn, thanh thoát, dịu hiền, khiêm tốn; tuy tươi mát, thân tình nhưng cũng rất e dè và chừng mực của Hà Thanh là nét tiêu biểu cho con người và phong thái của 'vùng đất khó'... Huế."[6]
Những góc nhìn và cách nhìn có thể khác nhau về một Hà Thanh ca sĩ, nhưng hình ảnh và nhận định về một Hà Thanh hiện thực vẫn là chung nhất. Đó là một Hà Thanh mà về hình tướng cũng như về phong cách sinh hoạt và trình diễn văn nghệ rất tiêu biểu cho "tính Huế" đã ăn sâu trong từng nỗi niềm nhớ Huế: Sâu lắng, nồng nàn, trang trọng, tài hoa.
Chị Hà Thanh sang Mỹ năm 1984. Có những cây cầu đã gãy trong chiến tranh và những mối tình gãy đổ sau cuộc chiến. Trong cảnh "trải qua một cuộc bể dâu", Hà Thanh tìm về với thiền học, thiền định và thiền ca. Những bản nhạc Thiền do Hà Thanh hát hoặc vừa phổ nhạc thơ thiền, vừa ca mang âm hưởng thâm trầm, gợi cảm mà gần gũi của nước "sông An Cựu Nắng đục mưa trong" và sự lắng đọng thấm vào lòng người của hồi chuông Thiên Mụ. Những khi buồn nhất và lắng lòng chiêm nghiệm từng vọng âm suy tưởng từ tâm mình, tôi lại thích nghe thiền ca do Hà Thanh hát. Giọng hát đậm đà còn mang cái gốc thanh âm giọng Huế của chị làm cho người nghe có cảm tưởng như đang nghe những lời tự tình của Huế. Nghe Hà Thanh hát thiền ca, người ta bỗng quên đi sự hiện hữu của thời gian đã làm cho đời phôi pha và quên luôn khoảng cách thời gian làm nên tuổi tác của chị. Một cảm giác thanh tân, tươi mát và lắng đọng đầy ắp lòng người chợt đến, chợt đi hay thấm đượm vào trong cảm xúc.
Khán giả ái mộ Hà Thanh liên tưởng đến nguồn Thiền đang tưới tẩm bản chất nghệ sĩ của chị khi chị xuất hiện gần đây trong các cuộc trình diễn và thu băng gây quỹ từ thiện, cũng như trong các chương trình nhạc hội Asia, Paris by Night với dáng vẻ trẻ trung, tươi mát như cả mấy mươi năm về trước. Trong thế giới ca sĩ trẻ đang lên, Hà Thanh không bị chiếc cầu thế hệ ngăn cách; trái lại, chị đã làm cho khán giả ái mộ cảm động và thưởng thức giọng hát vẫn trong ngần, quý phái của chị trên nẻo về gần "thất thập cổ lai hy."
Hà Thanh có một chỗ đứng riêng trong lịch sử tân nhạc Việt Nam và một vị trí độc sáng trong lòng người yêu nhạc xứ Huế.
Nửa thế kỷ, những dòng sông xanh vẫn luân lưu chảy. Tiếng hát vượt thời gian của Hà Thanh vẫn còn xanh mát như tên chị, như những dòng sông xanh mà muôn đời con nước vẫn đang về, đang tới. Và, nói thêm bằng những nét chấm phá thi vị như một nhà thơ nào đó, "...có một chút gì rất Huế, rất thương... Có một chút gì rất Huế trang đài..." trong tiếng hát Hà Thanh.
 

[1] Ban Việt Thanh do nhạc sĩ Văn Giảng -- cũng là Thông Đạt tác giả Ai Về Sông Tương -- thành lập và điều khiển; chuyên trình diễn tân nhạc tại đài phát thanh Huế.
[2]" Khi thương trái ấu cũng tròn, khi ghét trái bồ hòn cũng méo". Tục ngữ dân gian [2*] Lan Đình. Uyển Thanh. Văn Mới; 3 -1958:
"Soi bóng bên tê Vườn Thúy Hạnh
Tương tư rêu phủ mái Bình Linh"
[3] Quỳnh Dao Vấn Lục. Đào Uyển Minh. Trung Văn; Taiwan, 2001
[4] Nhattuan-TCM [5] Tdd - Footnote # 4
[6] Tôn Nữ Hỷ Khương. VN, 2006
 

 
HÀ THANH & HOA XUÂN CỦA PHẠM DUY
HÀ THANH & ĐÊM TÀN BẾN NGỰ CỦA DƯƠNG THIỆU TƯỚC
HÀ THANH & TÀ ÁO TÍM CỦA HOÀNG NGUYÊN
 

http://tapchisonghuong.com.vn/tin-tuc/p9/c30/n13846/Ca-sy-Ha-Thanh-vua-qua-doi.html

Cải lương : Đường gươm nguyên bá



https://www.mediafire.com/folder/ifk52hnayp5vx/Duong%20Guom%20

Thứ Bảy, 4 tháng 1, 2014

ĂN TẾT VỚI THỰC PHẨM VIETGAP

SGTT.VN - Ngoài những loại thực phẩm truyền thống, tết Giáp Ngọ năm nay thị trường xuất hiện thêm các dòng sản phẩm theo quy chuẩn VietGap…


Tết này người dùng lần đầu tiên được ăn gà thảo mộc.

Thay vì thúc ép tăng trọng lượng để kịp bán tết, những ngày này, trại gà thảo mộc 20.000 con của bà Cao Thị Ten, xã Phú Ngọc, Định Quán, Đồng Nai lại đang bị “ép” cho giảm cân. Bà Ten giải thích mục đích của cách nuôi này là giúp cho con gà giảm mỡ, chắc thịt. Để làm được điều này, bên cạnh các loại thức ăn cơ bản như cám, gạo, bắp, những con gà chỉ có trọng lượng tối đa từ 1,3 – 1,7kg còn được ăn độn thêm một loại dược liệu nhập khẩu từ Đài Loan. Ngoài ra, phải có không gian cho gà vận động...

Sản phẩm sạch được bao tiêu
Trại gà của bà Ten được cấp giấy chứng nhận VietGap. Bà lấy luôn tên gọi là “gà thảo mộc” làm thương hiệu quảng bá. Theo đánh giá của một số chuyên gia trong lĩnh vực chăn nuôi, thịt gà thảo mộc nuôi tại trang trại bà Ten săn chắc, có hương vị thơm ngọt, bổ dưỡng.

Thấy được tiềm năng của con gà thảo mộc, công ty San Hà, một doanh nghiệp kinh doanh, giết mổ gia cầm tại TP.HCM đã nhanh chân ký hợp đồng bao tiêu độc quyền với mức giá ổn định 68.000 đồng/kg. 
Theo bà Nguyễn Thị Ngọc Hà, giám đốc công ty San Hà, tết Nguyên đán năm nay, ngoài việc kinh doanh các sản phẩm gia cầm bình thường, công ty này lần đầu tiên sẽ tung ra thị trường khoảng 10.000 con gà thảo mộc với giá khoảng 120.000 đồng/kg. Hiện nay, qua khảo sát, gà thảo mộc đã được đưa vào kinh doanh tại các hệ thống siêu thị và cửa hàng với bao bì nhận diện khá đặc trưng và bắt mắt. “Chúng tôi đưa ra thị trường bán thử cách nay hơn tháng. Bước đầu người dùng tiếp nhận khá tích cực, sản lượng mỗi ngày một tăng”, bà Hà nói.

Việc bà Ten hay một số nông dân khác thay vì sản xuất theo kiểu truyền thống bắt đầu lưu tâm đến làm ra sản phẩm sạch, có truy xuất nguồn gốc nhằm đáp ứng nhu cầu của người dùng đang là xu hướng chăn nuôi mới hiện nay.

Theo ông Đặng Văn Được, một trong số 12 xã viên HTX chăn nuôi heo sạch Tiên Phong, Củ Chi, TP.HCM, nuôi heo sạch theo tiêu chuẩn VietGap có giá thành cao hơn nuôi thường từ 30 – 40% bởi phải “gánh” thêm các chi phí đầu tư chuồng trại, nhà kho trữ thức ăn, hầm bioga… bài bản; chi phí quản lý, chi phí kỹ thuật và đặc biệt là không sử dụng thuốc kích thích tăng trọng, vắcxin một cách bừa bãi. Dù có chi phí cao, nhưng bù lại vào dịp lễ tết, người dân thường tìm mua sản phẩm lạ, có nguồn gốc, chất lượng cao hơn nên sản phẩm heo VietGap của HTX sẽ đáp ứng được nhu cầu này.

Theo ông Trầm Quốc Thắng, phó chủ nhiệm HTX chăn nuôi heo an toàn Tiên Phong (Củ Chi), dự án nuôi heo an toàn được HTX này triển khai cách nay hai năm, hiện có 12 hộ chăn nuôi ở huyện Củ Chi và Hóc Môn đang áp dụng. Tết Giáp Ngọ năm nay, lần đầu tiên sau nhiều năm bán trôi nổi, đàn heo sạch khoảng trên 3.000 con của HTX sẽ được công ty Vissan bao tiêu toàn bộ với mức giá thị trường. Ông Thắng nói rằng, năm nay có công ty Vissan bao tiêu rồi nên bà con chỉ việc chuyên tâm nuôi cho đúng quy trình kỹ thuật để có nguồn thịt chất lượng bán tết mà không cần bận tâm đến đầu ra nữa.

Cần hỗ trợ giá cả, nhận diện

Làm ra được sản phẩm sạch nhưng khi ra thị trường phải được người dùng nhận diện, chấp nhận trả giá cao hơn, đó mới là mong muốn của cả người sản xuất và kinh doanh. Ông Trầm Quốc Thắng cho biết, mặc dù công ty Vissan đã ký hợp tác bao tiêu toàn bộ heo của Tiên Phong, nhưng thực tế hiện nay chưa có sản phẩm thịt heo VietGap nào của HTX đến tay người tiêu dùng với chứng nhận thịt sạch, có xuất xứ rõ ràng. Chính điều này, theo ông, đang gây khó khăn trong việc triển khai mô hình chăn nuôi heo VietGap ở Tiên Phong bởi do chưa được nhận diện thịt an toàn, giá bán ngang bằng với thịt heo chăn nuôi thông thường nên lợi nhuận mang lại cho bà con không cao, không thu hút được đầu tư mở rộng tăng đàn.

Tương tự, bà Cao Thị Ten cũng cho hay, với mức giá 68.000 đồng/kg gà thảo mộc tại trại mà công ty San Hà đang bao tiêu, chưa mang lại lợi nhuận vững bền cho gia đình, bởi để nuôi được một con gà thảo mộc chất lượng, chi phí tốn kém hơn nhiều lần so với nuôi gà ta. “Trong khi đó, gà ta nuôi chi phí thấp hơn, nhưng giá tại trại hiện nay cũng trên dưới 100.000 đồng/kg. Tôi nghĩ ngoài việc cần đầu ra ổn định thì giá bán cũng phải ở mức hợp lý cho người nuôi sống được”, bà Ten nói.

Đồng ý với quan điểm này, ông Đặng Văn Được, cho rằng quy trình nuôi có kiểm soát là khâu khó khăn nhất thì bà con đã làm được nên sẽ rất lãng phí nếu như sản phẩm đưa ra thị trường không có thương hiệu nhận diện, không có đầu ra ổn định. Từ suy nghĩ này, ông Được kiến nghị sau này lượng heo nuôi của bà con sản xuất ra đi vào ổn định thì công ty bao tiêu nên có kế hoạch giết mổ, đóng bao bì, ghi xuất xứ hàng hoá để người dùng nhận diện. Từ đó giá bán mới có thể đem lại lợi nhuận đảm bảo cho người chăn nuôi.

bài và ảnh:      Hoàng Bảy

Thứ Sáu, 3 tháng 1, 2014

40 NĂM “BÀI THÁNH CA BUỒN”

Hằng năm cứ mỗi dịp gần Noel, vào độ cuối đông tiết trời se lạnh, dường như đã trở thành thông lệ, chúng ta lại nghe thấy giai điệu quen thuộc của “Bài thánh ca buồn” vang lên khắp nơi. Gần nửa thế kỷ trôi qua, vào dịp lễ Giáng sinh, bản tình ca ấy vẫn cứ thản nhiên len lỏi vào tâm thức từ người dân đô thị đến những chòm xóm nhỏ, thậm chí còn quen thuộc hơn cả Thánh ca Giáo đường.
Đã 40 năm trôi qua, giờ đây khi đặt câu hỏi, trong số các bài hát việt về Giáng sinh, ca khúc nào phổ biến nhất, câu trả lời chắc chắn sẽ là “Bài thánh ca buồn” của nhạc sĩ Nguyễn Vũ, văn không ngừng ngân vang trong những đêm lành.
Thực ra, Elvis Phương không phải là ca sĩ đầu tiên thể hiện “Bài thánh ca buồn”, và có lẽ cũng chẳng phải là người cuối cùng, nhưng anh đã là người mặc định cho ca khúc một vị trí hoàn hảo, thổi vào đó dạt dào những cảm xúc từ khung trời kỷ niệm pha trộn giữa mùa Noel xưa và nay, một chút gì tiếc nuối, xa vắng, kết hợp sử lý giọng hát ở không gian cao, rộng, khoan thai, phát âm ca từ rõ ràng, lắng đọng, để rồi đẩy ca khúc lên trở thành một tuyệt tác mà qua biết bao nhiêu thế hệ người nghe, nó vẫn luôn là bài ca Giáng sinh được yêu mến nhất.
Nguyen Vu 2Quay trở lại với nhạc phẩm “Bài thánh ca buồn” thì vốn là một sáng tác của nhạc sĩ Nguyễn Vũ. Ông sáng tác ca khúc này vào năm 1972, tức cách đây đúng 40 năm và được hãng đĩa Sơn Ca mua độc quyền, nam ca sĩ Thái Châu là người đầu tiên thể hiện.
Nhạc sĩ Nguyễn Vũ tên thật là Nguyễn Tuấn Khanh, sinh năm 1944 tại Hà Nội nhưng suốt thời thơ ấu ông sống ở Đà Lạt. Chính thành phố sương mù này đã tác động nhiều đến bước đường nghệ thuật của ông.
Năm 12 tuổi (1956), cậu bé Tuấn Khanh từng đoạt giải nhất đơn ca thiếu nhi do đài phát thanh Đà Lạt tổ chức. Năm 23 tuổi, Nguyễn Vũ có bản nhạc đầu tay “Huyền thoại chiều mưa”… Hiện tại, ông có 4 người con gái đều đã trưởng thành nhưng không có ai theo nghiệp âm nhạc của cha. Hiện ông đang mở lớp dạy đàn, dạy nhạc tại Sài Gòn.
Mỗi ca khúc đều có một số phận, nhưng sau hơn 40 năm khi ca khúc ra đời, cha đẻ của Bài thánh ca buồn – nhạc sĩ Nguyễn Vũ – vẫn còn nguyên sự phấn khích : “Tôi không nghĩ ca khúc này lại được nhiều khán giả yêu mến đến thế. Khi viết ca khúc ấy, đơn giản tôi đang hoài niệm quãng thời trai trẻ của mình. Cái thời mà tôi chỉ dám ngắm nhìn người tôi mến, không dám mở lời làm quen”.
Ông kể rằng năm 14 tuổi, ông bị mê đắm bởi một cô gái người công giáo tại thành phố Đà Lạt sương mù. Tình cảm ấy khiến ông cứ lẽo đẽo theo cô trên đường đến nhà thờ. Trong một lần tan lễ, trời mưa rất to, cả hai đành phải trú mưa chung dưới một hiên nhà. Lúc ấy cũng đúng ngày lễ Giáng Sinh. Cô gái và người nhạc sĩ đều im lặng. Khi nghe ca khúc Silent Night (Đêm thánh vô cùng) phát ra từ nhà bên cạnh, cô gái lẩm nhẩm hát theo, hình ảnh ấy cứ ám ảnh người nhạc sĩ cho đến nhiều năm sau đó,Nguyen Vu 3 “trái tim của một gã trai mới lớn thổn thức đến tội nghiệp nhưng lại không có can đảm để làm quen”, vào năm 1972, Nguyễn Vũ đã viết lại cảm xúc của mình”. Và “Bài Thánh Ca Buồn” đã ra đời.
Đối với một tác phẩm nổi tiếng, chúng ta không chỉ xem xét, khẳng định khía cạnh tài năng của người sáng tác, mà còn phải quan tâm tới những nhân tố làm nên sở thích ở người nghe.“Bài thánh ca buồn” quả thực là một ca khúc đã vượt qua sự thử thách của thời gian để trở thành hiện tượng văn hóa, chứa đựng nhiều giá trị nghệ thuật, nhân văn, thẩm mỹ, lịch sử, khiến cho tác phẩm phẩm vì thế được cả những người Thiên Chúa giáo, lẫn những người ngoại đạo đều yêu thích. Một câu chuyện tình lãng mạn nhưng tinh tế và chân thật của một mùa Noel kỷ niệm, hơi phảng phất buồn, nhưng không bi lụy.
Ở Việt Nam, dù không chính thức nhưng Giáng sinh dần dần được coi như một ngày lễ chung, thường được tổ chức vào tối 24 và kéo sang ngày 25 tháng 12. Ngày nay, ngoài việc cộng đồng công giáo tổ chức lễ Noel theo những nghi lễ của tôn giáo nghiêm trang của mình, lễ Giáng sinh còn là một dịp sinh hoạt văn hóa cộng đồng nhộn nhịp của nhiều tầng lớp dân chúng nói chung, và đối với họ, Noel là một ngày Hội hơn là một ngày Lễ.
Đã 40 năm kể từ khi ca khúc “Bài thánh ca buồn” ra đời, đến nay nó vẫn được nhiều người nghe, thích và tiếp tục hát, thậm chí đang có xu hướng trẻ hóa dần dần. “Bài thánh ca buồn” đã thực sự trở thành một trong những ca khúc pop-ballad được nhiều người Việt ưa chuộng vào mỗi dịp Giáng sinh.
Xuân Mai chuyển tiếp 

ÁO LỤA HÀ ĐÔNG




Áo Lụa Hà Đông là một bài hát nổi tiếng của Nhạc sĩ Ngô Thụy Miên, được phổ Nhạc từ bài Thơ cũng rất nổi tiếng của
Thi sĩ Nguyên Sa (Trần Bích Lan). Ai trong chúng ta cũng từng một lần hát bài hát trên, nhưng ít người biết xuất xứ bài Thơ từ một cuộc thi Hoa hậu đầu tiên ở Viet Nam. Vào năm 1930, xứ Bắc kỳ tổ chức cuộc thi Hoa hậu ở Hanoi, cho bất cứ ai, làm nghề gì, không kể tuổi tác.. miễn là khi đi thi phải mặc Áo Lụa Hà Đông. Cuối cùng, người được đăng quang trong cuộc thi là người đẹp Lý Lệ Hằng. Cô xuất thân từ một gia đình nông dân nghèo ở Thái Bình, vì mưu sinh phải trôi nổi lên Hanoi kiếm sống và làm nghề hát Cô đầu cho các quán rượu.
Sau khi thay đổi cuộc đời, Cô trở nên nổi tiếng và là niềm ước mơ của bao Công tử nhà giàu trong cả nước. Tuy nhiên chẳng ai có thể với tới được người đẹp “chân lấm, 9 Ngo Thuy Mien 2tay bùn” này và chỉ một thời gian sau Lý lệ Hằng trở thành người tình của Quốc Vương Bảo Đại.
Có lẽ cũng như bao chàng trai si mê sắc đẹp khác, dù đã trải qua hơn 20 năm sau, nhà thơ Nguyên Sa vẫn mơ tưởng đến nụ cười, ánh mắt khuynh đảo của Hoa hậu đầu tiên và buộc Ông phải viết bài thơ ca ngợi người đẹp mặc áo lụa ấy.
Mãi đến năm 1969, khi nghe câu chuyện về Hoa hậu “thuần nông” phút chốc trở thành người yêu của ông Vua cuối cùng Việt Nam, chàng trai Ngô Thụy Miên đã viết nên ca khúc nổi tiếng “Áo Lụa Hà Đông” khi mới 21 tuổi, được phổ lời từ bài Thơ của Nguyên Sa như để ngưỡng mộ những cô gái tựa như đóa sen vươn lên từ đầm lầy.
Và đây là nguyên văn bài Thơ: Áo Lụa Hà Đông:
Nắng Sài gòn anh đi mà chợt mát / bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông / anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng / thơ của anh vẫn còn nguyên lụa trắng / anh vẫn nhớ em ngồi đây tóc ngắn  / mà mua thu dài lắm ở chung quanh / linh hồn anh vội vã vẽ chân dung / bay vội vã vào trong hồn mở cửa / gặp một bữa, anh đã mừng một bữa gặp hai hôm thành nhị hỹ của tâm hồn / 9 Nguyen Sa 1thơ học trò anh chất lại thành non và đôi mắt ngất ngây thành chất rượu / em không nói đã nghe từng gia điệu / em chưa nhìn mà đã rộng trời xanh / anh trông lên bằng đôi mắt chung tình / với tay trắng, em vào thơ diễm tuyệt
Em chợt đến, chợt đi, anh vẫn biết / trời chợt mưa, chợt nắng, chẳng vì đâu / nhưng sao đi mà không bảo gì nhau / để anh gọi, tiếng thơ buồn vọng lại / để anh giận, mắt anh nhìn vụng dại / giận thơ anh đã nói chẳng nên lời  em đi rồi, sám hối chạy trên môi / những tháng ngày trên vai buồn bỗng nặng / em ở đâu, hỡi mùa thu tóc ngắn / giữ hộ anh màu áo lụa Hà Đông/ anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng / giữ hộ anh bài thơ tình lụa trắng.
Xin mời thưởng thức một bài hát hay “Áo lụa hà Đông” thơ Nguyên Sa, nhạc Ngô Thụy Miên qua tiếng hát của Duy Trác. Thực hiện video: Vân Nguyễn :
Vậy Lụa Hà Đông xuất xứ ra sao mà đã đi vào Thơ Nhạc lãng mạng như thế ?
Cách Hanoi 10km có một làng chuyên nghề dệt lụa tơ tằm đẹp nổi tiếng có từ ngàn năm trước, là Làng lụa Hà Đông hay Làng lụa Vạn Phúc, thuộc quận Hà Đông. Nằm bên bờ sông Nhuệ, làng lụa Vạn Phúc vẫn còn giữ được ít nhiều nét cổ kính quê ngày xưa như hình ảnh cây đa cổ thụ, giếng nước, sân đình, buổi chiều vẫn họp chợ dưới gốc đa trước đình…
Làng Vạn Phúc vốn có tên Vạn Bảo, do kị húy nhà Nguyễn nên đã đổi thành Vạn Phúc. Theo truyền thuyết, cách đây khoảng 1200 năm, có bà A Lã Thị Nương là vợ của Thái Thú Giao Chỉ là Cao Biền, từng sống ở trang Vạn Bảo, đã từng dạy dân cách làm ăn và truyền nghề dệt lụa. Bà Lã Thị Nga, vốn người Hàng Châu (nơi có thương hiệu lụa Hàng Châu nổi tiếng), theo chồng chinh chiến khắp nơi rồi ở lại nơi này.8 Lua Ha Dong 1 Thấy dải đất trù phú ven sông Nhuệ xanh trong, bà dạy người dân trồng dâu, nuôi tằm rồi cho những người thợ lành nghề nhất đến dạy ươm tơ, dệt vải. Từ một ấp nhỏ, Vạn Phúc đã phát triển thành làng nghề sôi động, nức tiếng gần xa. Sau khi mất, bà được phong làm Thành hoàng Làng.
Lụa Vạn Phúc được giới thiệu lần đầu ra quốc tế tại các hội chợ Marseille (1931) và Paris (1932), được người Pháp đánh giá là loại sản phẩm tinh xảo của vùng Đông Dương thuộc Pháp. Trong tổng số 18 thợ thủ công lành nghề Việt Nam được vinh danh trong 2 cuộc triễn lãm trên, thì có 3 người là con của đất tơ tằm Vạn Phúc (trong đó có cụ Nguyễn Chấp Chung, cụ nội nghệ nhân Nguyễn Hữu Chỉnh hôm nay, người đang làm lụa khá nổi tiếng tại Vạn Phúc). Từ 1958 sản phẩm lụa Vạn Phúc hầu hết được xuất khẩu ra nhiều quốc gia trên Thế giới. Đến ngày nay, làng Vạn Phúc có khoảng hơn 1000 khung dệt, trong nhiều gia đình, khung dệt cổ vẫn được giữ lại, xen lẫn với các khung dệt cơ khí hiện đại. 8 Lua Ha Dong 2 



Lụa Vạn Phúc có nhiều mẫu hoa văn và lâu đời bậc nhất Việt Nam và từng được chọn may trang phục cho Triều đình.
Đặc biệt, theo Ca dao truyền miệng, nổi tiếng nhất trong các loại lụa Vạn Phúc có lẽ là lụa Vân – loại lụa mà hoa văn nổi vân trên mặt lụa mượt.
The La, lĩnh Bởi, chồi Phùng
Lụa vân Vạn Phúc, nhiễu vùng Mỗ Bôn.
Lụa Vân nói riêng và lụa Vạn Phúc nói chung có đặc điểm ấm áp vào mùa đông và mát mẻ vào mùa hè. Hoa văn trang trí trên vải lụa rất đa dạng như mẫu Song hạc, mẫu Thọ Đỉnh, mẫu Tứ Quý…
Tóm lại, với đặc tính mát vào mùa hè, ấm vào mùa đông, nhẹ nhàng, mềm mại làm nên giá trị vật chất của Lụa thì cái hồn cốt, cái in dấu trong lòng người từ bao năm qua lại nằm ở cái tình mà người Làng lụa gửi gắm đến chúng ta hôm nay : “Tiếng thơ buồn vọng lại…” (theo Nguyễn Tất Tiến)
Huỳnh Văn Yên chuyển tiếp 

BỘ ẢNH: THU BIỂN HỒ TRONG MẮT TÔI

Dã quỳ khoe sắc vàng rực rỡ trên những cánh đồi xa, len lỏi trong bóng thông xanh, e ấp bên con đường dẫn vào Biển Hồ - “mắt ngọc” trên cao nguyên xanh… Dã quỳ vô tình tạo cho khung cảnh Biển Hồ vào thu trở nên đẹp rực rỡ hơn bao giờ hết.
Không chỉ đánh dấu sự kết thúc của mùa mưa, hoa dã quỳ nở còn là thời điểm du khách tìm về thành phố Pleiku, để được hòa mình với khung cảnh hoang sơ, lãng mạn của Biển Hồ mùa thu và hơn cả là để đắm chìm trong màu vàng hoang dại của dã quỳ. Dã quỳ ở Biển Hồ mọc thành bụi nên khi bung nở đã tạo nên một thảm vàng rực rỡ. Sắc vàng ấy cùng ánh mặt trời làm mê hoặc bất kỳ ai lạc bước ngang qua.

Cùng ngắm bộ ảnh "Thu Biển Hồ trong mắt tôi" được tác giả Doan Vinh thực hiện vào những ngày cuối tháng 10/2013 :



Tại Biển Hồ - "mắt ngọc" trên cao nguyên xanh, vào mỗi sáng mai hay chiều xuống, bạn sẽ được chiêm ngưỡng bức tranh thiên nhiên hư ảo của những làn sương vương vấn mặt hồ ánh bạc, hít thở không khí trong lành, thả người dài trên trảng cỏ ngắm bầu trời trong xanh, cao vút.






Nếu tản bộ ven hồ, bạn sẽ thấy những thảm hoa dã quỳ khoe sắc vàng rực rỡ. Lác đác đó đây là những thảm hoa mua màu tím, hoa ngải vàng rơm và hoa Ê Pang phủ kín triền đồi thoai thoải một màu xanh lục. Còn đi dọc các lùm cây lau sậy sát bờ, bạn sẽ khám phá được nhiều loài chim đẹp như sin sít, cuốc đen, d’rao, bói cá.


Cuối con đường, leo lên các bậc tam cấp bằng đá, bạn sẽ đặt chân vào ngôi nhà lồng lộng gió được xây trên một đồi cao ăn ra lòng hồ. Từ đây, phong cảnh Biển Hồ giữa trập trùng đồi núi cao nguyên sẽ nằm gọn trong tầm mắt bạn.


Đây cũng là địa điểm lý tưởng để chiêm ngưỡng phố núi Pleiku cùng những quả đồi đất đỏ badan, những đồi chè, đồi cà phê trĩu quả. Sau phút giây mãn nhãn với cảnh sắc thiên nhiên, đừng quên thuê thuyền dạo chơi một vòng trên lòng hồ êm ả để cảm nhận khoảng cách rất gần giữa biển biếc và trời xanh.




 
http://tingialai.vn/news/Goc-Anh-Dep/Bo-Anh-Thu-Bien-Ho-trong-mat-toi-7277/