TTO - Ca sĩ Hà Thanh đã qua đời lúc 7g27 đêm 1-1 (giờ địa phương, tức sáng 2-1 giờ VN) tại TP Boston, tiểu bang Massachusetts (Mỹ) sau thời gian bị ung thư máu.
Ca sĩ Hà Thanh thời trẻ - Ảnh tư liệu
Theo nguồn tin từ gia đình cũng như nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân, ca sĩ Hà Thanh tên thật là Trần Thị Lục Hà, sinh năm 1939 ở Huế, theo học Trường Đồng Khánh.
Giữa thập niên 1950, trong cuộc tuyển lựa ca sĩ do Đài phát thanh Huế tổ chức, Lục Hà đã đạt giải nhất với sáu bài hát khó, trong đó có bài Dòng sông xanh (nghệ danh Hà Thanh xuất phát từ bản nhạc này).
Thành danh ở Huế, sau đó vào Sài Gòn sinh sống và hoạt động nghệ thuật từ năm 1963, đến năm 1982 ca sĩ Hà Thanh sang Mỹ định cư theo diện đoàn tụ gia đình.
Nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân nhận định: “Hà Thanh với giọng Oanh vàng số 1 được xem là nữ ca sĩ tiêu biểu nhất của Huế thế kỷ 20”.
Tên tuổi của Hà Thanh gắn liền với rất nhiều ca khúc bất hủ của VN như Tiếng xưa, Đêm tàn Bến Ngự (Dương Thiệu Tước), Suối mơ, Bến xuân (Văn Cao), Đêm đông (Nguyễn Văn Thương), Hoa xuân (Phạm Duy), Em đến thăm anh một chiều mưa (Tô Vũ), Từ Đàm quê hương tôi (Văn Giảng), Khúc tình ca xứ Huế (Trần Đình Quân), Ai lên xứ hoa đào và Tà áo tím (Hoàng Nguyên), Cô nữ sinh Đồng Khánh (Thu Hồ)…
Được biết, tại Boston những năm cuối đời, Hà Thanh chủ yếu hát nhạc Phật giáo, đã phát hành nhiều đĩa nhạc, đặc biệt là đĩa Phật ca Nhành dương cứu khổ được cộng đồng người Việt ở Mỹ đón nhận.
THÁI LỘC
http://www.baomoi.com/Nu-danh-ca-Ha-Thanh-da-ra-di/71/12814545.epi
'Hoạ mi xứ Huế' Hà Thanh qua đời ở tuổi 77
BOSTON, Massachusetts (NV) - Ca sĩ Hà Thanh, từng được mệnh danh là “họa mi xứ Huế,” vừa qua đời ngày 1 Tháng Giêng tại Boston, Massachusetts, ca sĩ Hoàng Oanh, một trong những người bạn thân thiết và lâu năm của người quá cố, xác nhận với nhật báo Người Việt.
Ca sĩ Hà Thanh ở Washington, D.C., năm 1996. (Hình: Huy Phương/Người Việt)
|
Ca sĩ Hoàng Oanh cho biết thêm: “Tôi với chị Hà Thanh là bạn nghệ sĩ thân tình, thường thăm hỏi lẫn nhau. Hôm Tết Tây, tôi gọi điện thoại sang Boston để hỏi thăm và chúc năm mới chị thì mới được gia đình cho hay chị mất vào lúc 7 giờ 27 phút tối.”
Ca sĩ Hoàng Oanh cho biết có nhiều kỷ niệm với cố ca sĩ Hà Thanh, nhưng nhớ nhất là chuyến đi lưu diễn ở Pháp năm 1969.
“Hoàng Oanh nhớ lúc đó gọi là Ðoàn Văn Nghệ, Bộ Thông Tin VNCH,” nữ ca sĩ Hoàng Oanh hồi tưởng. “Ðoàn có hai nhóm, cải lương và tân nhạc. Bên cải lương thì diễn trong rạp, và do cố nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ phụ trách. Nhóm chúng tôi là tân nhạc, gồm có nhạc sĩ Huỳnh Anh (guitar), nhạc sĩ Vĩnh Phan (đàn tranh), và nhạc sĩ Nguyễn Ðình Nghĩa (sáo). Ca sĩ thì có chị Hà Thanh, cá nhân tôi, và ban nhạc AVT. Chúng tôi đi trình diễn ở tám tỉnh và thường hát cho kiều bào và sinh viên Việt Nam nghe.”
Theo Wikipedia.org, ca sĩ Hà Thanh tên thật là Trần Thị Lục Hà, Pháp Danh Tâm Từ, sinh ngày 25 Tháng Bảy, 1937 tại Liễu Cốc Hạ, huyện Hương Trà, Thừa Thiên Huế. Bà là con thứ tư trong một gia đình gia giáo có 10 anh chị em mà không một người nào đi theo con đường văn nghệ, ngoài một người anh tỏ ra khuyến khích bà khi nhận thấy cô em mình có biệt tài ca hát.
Hồi còn nhỏ, bà theo học trường nữ trung học Ðồng Khánh và đã hát trong chương trình Tiếng Nói Học Sinh Quốc Học-Ðồng Khánh trên đài phát thanh Huế.
Năm 16 tuổi, Lục Hà tham dự cuộc tuyển lựa ca sĩ do đài phát thanh Huế tổ chức, và đoạt giải nhất, qua sáu nhạc phẩm, trong đó có bài “Dòng Sông Xanh”. Nghệ danh Hà Thanh ra đời cũng từ đây, và bà tiếp tục vừa đi học vừa hát cho đài phát thanh.
Năm 1963, trong chuyến vào thăm Sài Gòn, ca sĩ Hà Thanh được các trung tâm đĩa nhạc Continental, Tân Thanh, Sóng Nhạc, Asia, Việt Nam mời thu thanh nhiều nhạc phẩm, và hai năm sau, chính thức gia nhập sinh hoạt ca nhạc ở Sài Thành, và trở thành một trong những giọng ca hàng đầu của thủ đô hồi đó.
Tiếng hát Hà Thanh thường xuyên được nghe trên các đài phát thanh Sài Gòn, Quân Ðội, Tự Do, trong các chương trình đại nhạc hội... và rất nổi tiếng với những nhạc phẩm của nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông.
Về biệt danh “họa mi xứ Huế,” trong một bài viết đăng trên nhật báo Người Việt hồi Tháng Sáu năm ngoái, ca sĩ Quỳnh Giao viết như sau: “Hà Thanh có được Huế cưng quý như vậy trước hết là nhờ giọng ca thiên phú, trong trẻo cao vút. Ðây là một trong vài giọng soprano hiếm có của Việt Nam. Hà Thanh hát dễ dàng như hơi thở. Khi lên cao, giọng lồng lộng, thoải mái cho chúng ta cảm tưởng chiếc diều phơi phới trên nền trời xanh ngắt.”
“Vì sao lại so sánh với cánh diều? Chính vì chất giọng trong trẻo nhẹ nhàng làm mình liên tưởng đến trời xanh và nắng ấm,” theo ca sĩ Quỳnh Giao.
Ca sĩ này viết tiếp: “Vì trình độ thưởng ngoạn, nhiều người cứ khen làn hơi rất mạnh. Không thiếu gì ca sĩ thời nay hay khoe làn hơi ‘mạnh’ vì thấy hát trổ giọng lại càng được vỗ tay và huýt sáo vang lừng! Trong nghệ thuật thì khác, hát nhẹ và êm mà vẫn rõ lời mới là điều khó. Khi hát nhẹ, ca sĩ phải ‘kìm’ làn hơi để phả từ từ, nhẹ nhàng mà vẫn đều đặn. Khó nhất là lúc ngân cho câu nhạc nhỏ dần, đến khi chỉ bằng sợi tơ mong manh mà không đứt, không tắt.”
Theo ca sĩ Quỳnh Giao, nhờ hát như vậy mà ca sĩ Hà Thanh được các nhạc sĩ sáng tác trân quý và yêu cầu bà hát những tác phẩm tim óc của họ.
Ca sĩ Quỳnh Giao cho biết tiếp, chính nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông để mắt xanh đến Hà Thanh ngay lần đầu được nghe bà từ Huế vào Sài Gòn thăm người em gái, đến phòng thu của hãng đĩa hát thử. Quả là nhạc của ông đã được giọng hát Hà Thanh chắp cánh bay cao.
Trịnh Công Sơn khi còn ở Huế đã đưa những ca khúc chưa ráo mực đến nhờ Hà Thanh hát, theo ca sĩ Quỳnh Giao, và “họa mi xứ Huế” đã đưa “Nắng Thủy Tinh,” “Lời Mẹ Ru,” hay “Nhìn Những Mùa Thu Ði” vang vọng đất Thần Kinh (Huế).
Theo tác giả bài viết, Dương Thiệu Tước cũng thích và Hoàng Trọng cũng mến Hà Thanh, Tuấn Khanh thì “mê” giọng hát này nhất, nhưng thính giả ở Huế quá ít, phải đợi khi vào Sài Gòn thì Hà Thanh mới có đất dụng võ.
––
Liên lạc tác giả: DoDzung@nguoi-viet.com
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=180127&zoneid=1#.UsqaYfsxUe4
CA SỸ HÀ THANH VỪA QUA ĐỜI
(SHO) Ca sĩ Hà Thanh vừa mất lúc 7g27 đêm 1-1 (giờ địa phương, tức sáng
2-1 giờ VN) tại TP Boston, tiểu bang Massachusetts (Mỹ) sau thời gian
mắc bệnh ung thư máu.
Ảnh: internet
Ca sĩ Hà
Thanh, quê quán Liễu Cốc Hạ, xã Hương Toàn, huyện Hương Trà. Tên thật là
Trần Thị Lục Hà, sinh năm 1939 ở Huế, nữ sinh Trường Đồng Khánh.
Giữa thập
niên 1950, trong cuộc tuyển lựa ca sĩ do Đài phát thanh Huế tổ chức, Lục
Hà đã đạt giải nhất với sáu bài hát khó, trong đó có bài Dòng sông xanh
, và nghệ danh Hà Thanh xuất phát từ bản nhạc này. Hà Thanh được xem là
nữ ca sĩ tiêu biểu nhất của Huế thế kỷ 20. Tên tuổi của ca sỹ Hà Thanh
gắn liền với nhiều ca khúc bất hủ của VN như Hoa xuân (Phạm Duy), Em đến thăm anh một chiều mưa (Tô Vũ), Từ Đàm quê hương tôi (Văn Giảng), Khúc tình ca xứ Huế (Trần Đình Quân), Ai lên xứ hoa đào và Tà áo tím (Hoàng Nguyên), Cô nữ sinh Đồng Khánh (Thu Hồ), Tiếng xưa, Đêm tàn Bến Ngự (Dương Thiệu Tước), Suối mơ, Bến xuân (Văn Cao), Đêm đông (Nguyễn Văn Thương), …
Tại Boston, Hà Thanh chủ yếu hát nhạc Phật giáo, đặc biệt có đĩa Phật ca Nhành dương cứu khổ được cộng đồng người Việt ở Mỹ đón nhận.
SH xin chia
buồn cùng gia đình và quý bạn đọc. Cũng nhân dịp này, xin giới thiệu bài
viết về Ca sỹ Hà Thanh của nhà văn Trần Kiêm Đoàn, người gọi ca sỹ là
“bà chị” trong dòng họ Trần Kiêm nổi tiếng ở Liễu Cốc Hạ
SH
HÀ THANH TIẾNG HÁT CỦA DÒNG SÔNG XANH Trần Kiêm Đoàn |
Gọi tên hoa súng: LỤC HÀ
Gọi thôn LIỄU HẠ: quê nhà bên sông
Gọi TRẦN KIÊM: họ sắc... không
Gọi HÀ THANH: tiếng hát dòng Hương Giang
Có hai gã Trần Kiêm lang bạt xa quê gặp
nhau bên trời Tây cùng nói về một nhân vật. Thi sĩ Kiêm Thêm nói về "mụ
O" và tôi nói về "bà Chị" nghệ sĩ của mình là ca sĩ Hà Thanh bằng một
mẫu "sơ yếu lý lịch" hợp soạn hòa âm rất chơn chất và... nên thơ như thế
đó.
Thuở nhỏ ở làng Liễu Hạ, tôi thường lên
mặt hãnh diện khi cuối tuần ngồi quanh cái "Ra-dô" ở làng với bọn nhóc
tì trong xóm nghe chương trình ca nhạc của ban Việt Thanh[1] ở đài phát
thanh Huế, mà trong đó, Hà Thanh, bà chị họ của tôi, là ca sĩ... hát hay
nhất. Nhóm bình luận gia âm nhạc chân đất làng tôi từ sáp nhỏ cho đến
người lớn chẳng biết có mang hội chứng "trái ấu" [2] hay không nhưng ai
cũng xuýt xoa khen giọng hát Hà Thanh thuở đó là "hay nhứt xứ."
Làng Liễu Hạ và họ Trần nhà tôi -- có lẽ
luôn cả Huế -- hầu hết là những rặng thông già kẻ sĩ không lớn kịp với
mùa Xuân nghệ sĩ đang lên. Đó là hiện tượng nghịch lý rằng, ai cũng mến
mộ giọng hát của Hà Thanh, nhưng lại ái ngại khi một cô nữ sinh xinh đẹp
xứ Huế, ái nữ của một gia đình nho phong "êm đềm trướng rủ màn che" trở
thành ca sĩ. Nhất là dòng họ Trần Kiêm chúng tôi có bác Trần Kiêm Phổ
làm trưởng tộc thì lại càng quan tâm nhiều hơn. Bác "Trợ Phổ", thân phụ
của chị Hà Thanh, với dung mạo uy nghi, thường cầm cân nẩy mực cho cả
dòng họ, nay lại cho phép chị Hà đi hát công khai trên đài phát thanh,
thì quả là một cuộc "đại cách mạng" trong quan niệm truyền thống còn
mang nhiều định kiến của đất lề quê thói rất Huế đương thời.
Ngày đó, khu nhà vườn cổ kính ở mé này
nhánh sông Hương nối liền với sông An Cựu nắng đục mưa trong; ngó qua mé
bên tê sông là trường Pellerin vẫn thường được giới nam nhi Huế ròng và
Huế "bậu" -- bắt chước Lan Đình gọi là "Vườn Thúy Hạnh"[2*] -- vì một
nhà mà có nhiều hơn cả "ngũ long công chúa", đều mang tên chữ có bộ thảo
và rất chi là... tường Đông ong bướm đi về mặc ai: Tố Cần, Hà Thanh,
Phương Thảo, Liên Như, Thúy Vy, Bạch Lan, Hoàng Mai.
Đời nghệ sĩ của Hà Thanh bắt đầu từ năm
1953, lần đầu đài Phát Thanh Huế mở một cuộc tuyển lựa ca sĩ với quy mô
lớn. Anh Trần Kiêm Tịnh biết cô em gái mình có giọng hát hay quá nên đã
dắt em đi thi. Điều kiện ghi danh dự thi là phải từ 15 tuổi trở lên.
Ngày đó, Lục Hà, cô nữ sinh áo trắng nón bài thơ Huế mới 14 tuổi, nên
phải "kiếm thêm một tuổi trời cho" nữa mới đủ tuổi dự thi và kết quả
đứng đầu cuộc thi. Tuy ông cụ thân sinh chị Hà Thanh là người theo Tây
học với tinh thần cởi mở phương Tây, nhưng "phương Tây Huế" thuở đó cũng
vẫn còn trong mẫu mực nho phong. Nhạc sĩ Ngô Ganh là giám đốc đài phát
thanh Huế đương thời, phải dùng uy tín của mình đến nhà năn nỉ, rằng:
"Học hành thì đứa nào học chẳng được, nhưng còn cái tài của cháu Hà
Thanh là một tài năng độc đáo, có giá trị trong cả nước Việt Nam. Nếu
không cho đi hát thì tài năng sẽ bị mai một đi, uổng lắm." Ông cụ nghe
lời minh giải hợp lý nên cho đi hát ở đài phát thanh mà thôi, không hát ở
phòng trà hay sân khấu. Từ đó, tiếng hát Hà Thanh đã vọng ra xa hơn bên
ngoài rào dậu Vườn Thúy Hạnh.
Người ta vừa thưởng thức giọng hát thanh
thoát, mượt mà (uyển thanh) như tiếng sông Hương đang lên của Hà Thanh;
nhưng đồng thời cũng vừa quan sát nàng ca sĩ xứ Huế đó như một hiện
tượng.
Nói về giọng hát thiên phú của Hà Thanh đã
có rất nhiều văn nhân, thi sĩ, nhạc sĩ... nhiệt thành khen tặng. Một vị
thầy âm nhạc của tôi ở trường Hàm Nghi Huế là nhạc sĩ Văn Giảng (cũng
ký tên là Thông Đạt, tác giả Ai Về Sông Tương...) đã cho rằng, Hà Thanh
là một ca sĩ tiêu biểu của Huế. Chị có một giọng hát thanh tao, quý phái
với mức thể hiện cường độ và trường độ âm thanh vừa vặn, diễn cảm tuyệt
vời. Đặc biệt là những luyến láy mềm mại rất có hồn và gợi cảm trong
tiếng ca.
Luyến láy mà không làm điệu tới mức uốn lượn quanh co thành ra làm dáng trình diễn là nét độc đáo nhất trong tiếng ca Hà Thanh.
Nhân dáng, điệu bộ trình diễn và phong
cách sinh hoạt đời thường cũng như trong hội diễn vẫn bị xem là một "đại
nghiệp dĩ" của người ca sĩ. Nếu như nói theo Đào Uyển Minh, nhà phê
bình nghệ thuật Đài Loan khi nhận định về Quỳnh Dao, thì phong thái của
một nghệ sĩ là "sự biểu hiện cụ thể của một chuỗi phản ứng tâm lý có
điều kiện khi tài năng thiên phú đối mặt và tương tác với trình độ giáo
dục, hoàn cảnh xã hội và xu hướng nghệ thuật của thời đại"[3] thì quan
niệm nầy có vẻ sát hợp với Hà Thanh. Chị sinh ra và lớn lên ở Huế. Huế
được người đời nhớ nhung và yêu thương không chỉ vì Huế đẹp, Huế thơ mà
còn vì Huế là vùng đất của nhiều tai trời ách nước; chịu nhiều oan khiên
và đổ vỡ tan tác từ thuở công chúa Huyền Trân đổi mình cho Huế, áo xiêm
phiêu bạt về Chiêm quốc. Cho nên, hầu như tất cả nghệ sĩ xứ Huế đều
không có sự biểu hiện táo bạo, vỡ bờ, chinh phục để cuốn hút khách
thưởng ngoạn qua dáng vẻ bên ngoài. Đấy cũng là cảm nhận của Thu Bồn,
một nhà thơ xứ Quảng: "... sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu."
Nhà thơ Nhất Tuấn, tác giả "Chuyện Chúng Mình" vang tiếng một thời, nói về Hà Thanh như sau: "Tôi có dịp gặp Hà Thanh khi làm quản đốc đài Phát Thanh Quân Đội (1968) tại Sài Gòn. Hà Thanh lúc đó hát rất hay và xuất hiện thường xuyên trên các đài VOF, Mẹ Việt Nam, đài Sài Gòn, đài Quân Đội. Hà Thanh càng ngày càng nổi tiếng. So với những ngày còn ở Huế, sự giao thiệp của Hà Thanh có phần bạo dạn hơn đôi chút, nhưng vẫn còn dè dặt và giới hạn lắm. Thời này Hà Thanh hát nhiều bài của Nhất Tuấn do Phạm Duy, Đan Thọ, Hoàng Lan phổ nhạc. Đặc biệt là Hà Thanh hát rất nổi tiếng những nhạc phẩm của Nguyễn Văn Đông và nhạc tiền chiến của Đoàn Chuẩn, Từ Linh. Bài nào Hà Thanh hát lên cững làm người nghe rung động vì khi hát nàng để hết tâm hồn vào lời thơ, ý nhạc của tác giả muốn gởi gắm trong bài. Hà Thanh như 'nhập' vào bài hát để diễn tả, để làm toát lên giọng Huế rất dễ thương."[4] Tác giả Chuyện Chúng Mình mô tả Hà Thanh: "Dáng người thanh tú, cao cao, nụ cười vui tươi luôn nở trên môi với nét mặt rạng rỡ. Tính nết Hà Thanh nhu mì, hiền dịu, khác biệt trong giới nghệ sĩ."[5] Và nhà thơ Tôn Nữ Hỷ Khương đã "phong Huế" cho Hà Thanh, rằng: "Dáng nhỏ nhắn, thanh thoát, dịu hiền, khiêm tốn; tuy tươi mát, thân tình nhưng cũng rất e dè và chừng mực của Hà Thanh là nét tiêu biểu cho con người và phong thái của 'vùng đất khó'... Huế."[6]
Những góc nhìn và cách nhìn có thể khác
nhau về một Hà Thanh ca sĩ, nhưng hình ảnh và nhận định về một Hà Thanh
hiện thực vẫn là chung nhất. Đó là một Hà Thanh mà về hình tướng cũng
như về phong cách sinh hoạt và trình diễn văn nghệ rất tiêu biểu cho
"tính Huế" đã ăn sâu trong từng nỗi niềm nhớ Huế: Sâu lắng, nồng nàn,
trang trọng, tài hoa.
Chị Hà Thanh sang Mỹ năm 1984. Có những
cây cầu đã gãy trong chiến tranh và những mối tình gãy đổ sau cuộc
chiến. Trong cảnh "trải qua một cuộc bể dâu", Hà Thanh tìm về với thiền
học, thiền định và thiền ca. Những bản nhạc Thiền do Hà Thanh hát hoặc
vừa phổ nhạc thơ thiền, vừa ca mang âm hưởng thâm trầm, gợi cảm mà gần
gũi của nước "sông An Cựu Nắng đục mưa trong" và sự lắng đọng thấm vào
lòng người của hồi chuông Thiên Mụ. Những khi buồn nhất và lắng lòng
chiêm nghiệm từng vọng âm suy tưởng từ tâm mình, tôi lại thích nghe
thiền ca do Hà Thanh hát. Giọng hát đậm đà còn mang cái gốc thanh âm
giọng Huế của chị làm cho người nghe có cảm tưởng như đang nghe những
lời tự tình của Huế. Nghe Hà Thanh hát thiền ca, người ta bỗng quên đi
sự hiện hữu của thời gian đã làm cho đời phôi pha và quên luôn khoảng
cách thời gian làm nên tuổi tác của chị. Một cảm giác thanh tân, tươi
mát và lắng đọng đầy ắp lòng người chợt đến, chợt đi hay thấm đượm vào
trong cảm xúc.
Khán giả ái mộ Hà Thanh liên tưởng đến
nguồn Thiền đang tưới tẩm bản chất nghệ sĩ của chị khi chị xuất hiện gần
đây trong các cuộc trình diễn và thu băng gây quỹ từ thiện, cũng như
trong các chương trình nhạc hội Asia, Paris by Night với dáng vẻ trẻ
trung, tươi mát như cả mấy mươi năm về trước. Trong thế giới ca sĩ trẻ
đang lên, Hà Thanh không bị chiếc cầu thế hệ ngăn cách; trái lại, chị đã
làm cho khán giả ái mộ cảm động và thưởng thức giọng hát vẫn trong
ngần, quý phái của chị trên nẻo về gần "thất thập cổ lai hy."
Hà Thanh có một chỗ đứng riêng trong lịch sử tân nhạc Việt Nam và một vị trí độc sáng trong lòng người yêu nhạc xứ Huế.
Nửa thế kỷ, những dòng sông xanh vẫn luân
lưu chảy. Tiếng hát vượt thời gian của Hà Thanh vẫn còn xanh mát như tên
chị, như những dòng sông xanh mà muôn đời con nước vẫn đang về, đang
tới. Và, nói thêm bằng những nét chấm phá thi vị như một nhà thơ nào đó,
"...có một chút gì rất Huế, rất thương... Có một chút gì rất Huế trang
đài..." trong tiếng hát Hà Thanh.
[1] Ban Việt Thanh do nhạc sĩ Văn Giảng -- cũng là Thông Đạt tác giả Ai Về Sông Tương -- thành lập và điều khiển; chuyên trình diễn tân nhạc tại đài phát thanh Huế. [2]" Khi thương trái ấu cũng tròn, khi ghét trái bồ hòn cũng méo". Tục ngữ dân gian [2*] Lan Đình. Uyển Thanh. Văn Mới; 3 -1958: "Soi bóng bên tê Vườn Thúy Hạnh Tương tư rêu phủ mái Bình Linh" [3] Quỳnh Dao Vấn Lục. Đào Uyển Minh. Trung Văn; Taiwan, 2001 [4] Nhattuan-TCM [5] Tdd - Footnote # 4 [6] Tôn Nữ Hỷ Khương. VN, 2006
HÀ THANH & HOA XUÂN CỦA PHẠM DUY
HÀ THANH & ĐÊM TÀN BẾN NGỰ CỦA DƯƠNG THIỆU TƯỚC
HÀ THANH & TÀ ÁO TÍM CỦA HOÀNG NGUYÊN
|
http://tapchisonghuong.com.vn/tin-tuc/p9/c30/n13846/Ca-sy-Ha-Thanh-vua-qua-doi.html
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét