Năm 1928, penicillin, loại
kháng sinh
đầu tiên được tìm ra bởi Alexander Fleming. Nhà sinh học người Scotland
được coi là người đã mở ra một kỷ nguyên vàng của y học. Khi đó, những
viên thuốc kháng sinh được gọi là
thần dược tây y. Chúng đã cứu sống hàng triệu người bệnh mỗi năm khỏi cái chết gây ra bởi nhiễm khuẩn.
Tuy nhiên, câu chuyện tuyệt vời ấy dường như đang đi đến hồi kết. Sau
hơn 70 năm kháng sinh được đưa vào y học, thời đại hoàng kim của nó đã
không còn được duy trì. Có hàng triệu người đã chết mỗi năm trong thời
đại chưa có kháng sinh, và rồi sẽ là một con số tương tự trong những năm
sắp tới. Cơn ác mộng mang tên "
kháng kháng sinh" đang đe dọa loài người vì chính sự lạm dụng thuốc của chúng ta trong quá khứ.
Kháng kháng sinh là gì?
Kháng kháng sinh là
hiện tượng xảy ra khi mầm bệnh hay vi khuẩn không bị tiêu diệt bởi thuốc kháng sinh. Chúng không những tồn tại mà còn sinh sản ra những thế hệ vi khuẩn mới, cũng
có đặc tính kháng thuốc và hóa chất điều trị nhiễm trùng.
Một chủng vi khuẩn có thể phát triển đế chống lại từ một cho đến hàng chục loại
thuốc kháng sinh
khác nhau. Khi đó, bệnh nhiễm trùng trở nên khó khăn hoặc thậm chí
không thể điều trị. Trong một vài trường hợp, bệnh nhân có thể phải trải
qua phẫu thuật cắt bỏ, hoặc thậm chí tử vong vì kháng kháng sinh.
Tại sao kháng kháng sinh là một cơn ác mộng với loài người?
Nếu bạn quay lại trước những năm 1943, khi thuốc kháng sinh chưa xuất
hiện, mọi cái chết xung quanh chúng ta không đến từ ung thư hay bệnh
tim mạch. Con người sẽ chết vì các vết thương khi bị ngã, trúng đạn, tai
nạn lao động... Phần lớn những vết thương dẫn đến nhiễm trùng và kết
thúc cuộc sống của một ai đó.
Tuy nhiên, tất cả thay đổi sau khi Fleming tìm ra
penicillin. Nhiễm trùng được coi là án tử, đột nhiên lại có thể chữa trị chỉ sau "
một cái búng tay"
với kháng sinh. Giống như một phép lạ vậy, điều đó mở ra một kỷ nguyên
vàng trong y tế phương tây. Những viên kháng sinh được coi là thần dược.
Cho tới nay, đã hơn 70 năm trôi qua, và chúng ta nghi ngờ rằng có mấy
khi một thời kỳ vàng son của điều gì có thể kéo dài đến vậy. Chẳng còn
sớm nữa để nghĩ về sự sụp đổ của thời đại kháng sinh, khi vi khuẩn đang
ngày càng kháng thuốc.
Nói về một nền văn minh hiện đại, chúng ta hay tưởng tượng đến nhà
máy điện, máy vi tính, thiết bị cầm tay... Nhưng mấy ai biết rằng kháng
sinh là một trong những trụ cột đang chống đỡ thế giới ấy. Nếu thời đại
kháng sinh sụp đổ, nền văn minh sẽ rung chuyển như thế nào?
Đầu tiên, chúng ta sẽ mất hết lá chắn phòng vệ cho những người có hệ
miễn dịch yếu. Họ bao gồm bệnh nhân ung thư, người nhiễm HIV, trẻ em đẻ
non... Điều này đồng nghĩa với cái chết của tất cả những con người này.
Tiếp đến,
kỹ thuật phẫu thuật của loài người bị vô
hiệu hóa. Nhiều ca phẫu thuật được yêu cầu sử dụng kháng sinh phòng
ngừa. Khi kháng sinh mất tác dụng, phòng phẫu thuật của bệnh viện như
không có mái che.
Chúng ta sẽ không thể mổ tim, ghép thận, đưa ống thông cho bệnh nhân
đột quỵ... Chúng ta không thể phẫu thuật dù chỉ đơn giản là chỉnh lại
khớp gối. Không thể đẻ mổ, và dù cho trong những bệnh viện hiện đại
nhất, cứ 100 sản phụ sẽ có 1 người tử vong.
Nhiễm trùng gây ra nỗi sợ hãi từ những bệnh tầm
thường. Viêm họng liên cầu gây suy tim. Viêm phổi giết chết 3 trong 10
trẻ em mắc bệnh. Nhiễm trùng da đồng nghĩa với phẫu thuật cắt bỏ chi.
Hãy nhớ lại trường hợp đầu tiên được điều trị penicillin. Albert
Alexander trước đó đã mất một con mắt trong tình trạng da đầu rỉ mủ, chỉ
bắt đầu từ việc bị gai xước vào mặt trong khi làm vườn.
Rồi thì bạn còn dám làm gì nữa khi mà bất cứ tổn thương nào cũng có
thể giết người. Bạn có dám đi xe máy, trượt patin, trèo thang để sửa mái
nhà hay đặt con bạn chơi đùa dưới sàn nhà?
Bao giờ thì những điều này xảy ra?
Bạn có giật mình không khi biết rằng chúng ta đã ở trong cơn ác mộng này rồi?
Cho tới ngày hôm nay, loài người có trong tay trên dưới
100 loại kháng sinh. Con số không khác biệt là mấy từ những năm đầu thế kỷ 21. Nhưng năm 2000, một bệnh nhân người Mỹ đầu tiên được
Trung tâm Kiểm soát Dịch bệnh và Phòng ngừa Hoa Kỳ (CDC) xác nhận kháng tất cả các kháng sinh, chỉ trừ hai loại.
Năm 2008, các bác sĩ Thụy Điển phải đối mặt với trường hợp một bệnh
nhân Ấn Độ nhiễm trùng mà kháng toàn bộ kháng sinh chỉ trừ 1 loại.
Nhưng bạn đừng nghĩ đó chỉ là những trường hợp đơn lẻ. Mỗi năm, riêng
Hoa Kỳ và Châu Âu có khoảng 50.000 người chết vì nhiễm trùng mà không
có thuốc chữa. Một dự án được tài trợ bởi chính phủ Anh mang tên "
Chương trình Đánh giá Kháng kháng sinh"
ước tính tổng số ca tử vong loại này trên thế giới là 700.000 người mỗi
năm. Năm 2050, con số sẽ lên đến 10 triệu ca với tốc độ kháng kháng
sinh phát triển như hiện nay.
Bỏ qua những con số, bạn cũng có thể biết được cơn ác mộng đã đến với
chính mình và người thân. Thời gian trước đây, triệu chứng tiểu buốt do
nhiễm trùng đường tiết niệu có thể chữa khỏi hoàn toàn bằng một đơn
kháng sinh ngắn ngày. Bây giờ, bạn có thể phải dùng đến vài ba loại
thuốc.
Nghiên cứu mới đây chỉ ra rằng con bạn có nguy cơ nằm trong 25% trẻ
em nhiễm trùng đường tiết niệu phải sử dụng 3 loại kháng sinh khác nhau.
25% còn lại phải điều trị với 2 loại thuốc và chỉ còn một nửa trẻ em có
thể trị khỏi bằng một loại thuốc duy nhất.
Ngày 30 tháng 4 năm 2014,
Tổ chức Y tế thế giới
(WHO) tuyên bố trong một báo cáo rằng nhân loại thực sự đang ở trong cơn
ác mộng của kháng kháng sinh. Nó là một mối đe dọa nghiêm trọng và
thách thức y học trong thời điểm này. WHO nói "
không hành động ngay hôm nay, tương lai chúng ta sẽ chẳng còn thuốc chữa bệnh".
Fleming, cha đẻ của kháng sinh đã biết trước mọi thứ
Alexander Fleming, nhà sinh học người Scotland được coi là cha đẻ của
kháng sinh khi ông phát hiện ra penicillin vào năm 1928. Năm 1943,
những liều penicillin thương mại đầu tiên được tung ra. Hai năm sau đó,
Fleming nhận giải
Nobel cho phát hiện của mình.
Nhưng ngay trong buổi phỏng vấn sau đó, ông đã cảnh báo đến viễn cảnh không vui khi vi khuẩn có thể trở nên kháng thuốc. "
Những
người lạm dụng penicillin ngày hôm nay, họ phải chịu trách nhiệm cho
cái chết của những bệnh nhân nhiễm vi khuẩn kháng penicillin sau này", Flenming nói. "
Tôi hy vọng điều nguy hiểm này có thể được kiểm soát".
Và rồi đúng như vậy. Năm 1943, penicillin được tung ra thì năm 1945,
vi khuẩn kháng penicillin xuất hiện. Con người lại đi tìm những loại
kháng sinh mới. Năm 1972, vancomycin được điều chế, kháng vancomycin
xuất hiện năm 1988.
Imipenem ra đời năm 1985 thì đến năm 1998, kháng imipenem xuất hiện.
Một trong những loại kháng sinh mới nhất của nhân loại, daptomycin ra
đời năm 2003 thì chỉ 1 năm sau xuất hiện vi khuẩn kháng nó.
Điều này được ví như trò chơi nhảy cừu. Thuốc ra đời, vi khuẩn kháng
nó và rồi chúng ta lại đi tìm loại thuốc mới. Nhưng có vẻ như loài người
đang hụt hơi khi mà một chủng vi khuẩn mới sinh ra cứ mỗi 20 phút, các
công ty dược phẩm thì cần đến cả thập kỷ đế nghiên cứu một loại kháng
sinh.
Chúng ta có thể làm gì?
Trước hết, hãy nói về nguyên nhân tại sao vi khuẩn có thể trở nên
kháng thuốc. Xét dưới góc độ tế bào, nó là việc vật chất di truyền DNA
của vi khuẩn được biến đổi để: tránh sự xâm nhập của kháng sinh vào
chúng, giúp vi khuẩn tổng hợp enzyme gây bất hoạt hoặc phân hủy kháng
sinh, thay đổi con đường chuyển hóa và chúng thải được kháng sinh ra
khỏi tế bào.
Bỏ qua những điều phức tạp này, bạn nên biết đến chính con người đã
tiếp tay cho vi khuẩn biến đổi gen của chúng. Đó là những hành động được
gọi chung cái tên:
lạm dụng thuốc kháng sinh.
Bạn có bao giờ dùng kháng sinh để điều trị bệnh cúm mà không biết nó
gây ra bởi virus chứ không phải vi khuẩn? Bạn có bao giờ tự ý giảm liều
lượng hay thời gian điều trị kháng sinh của bác sĩ xuống một nửa mà
không biết điều đó tạo điều kiện cho vi khuẩn sống sót và tạo gen kháng
thuốc?
Rồi khi chúng ta sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi, thú y, sản xuất
nông nghiệp và ngư nghiệp, đó là điều kiện cho những vi khuẩn ở động vật
kháng thuốc rồi ảnh hưởng tới cả con người. Sử dụng chất diệt khuẩn
trong lau rửa thường xuyên cũng tạo ra những dòng vi khuẩn kháng thuốc.
Cho tới nay, kháng kháng sinh đã trở thành vấn đề toàn cầu chỉ bắt
nguồn từ những điều nhỏ nhặt nhưng ai cũng làm thường xuyên như vậy.
Những giải pháp toàn cầu cũng sẽ phải được đặt ra. Có thể là chúng ta
nên nghiêm cấm hẳn việc sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi và ngư
nghiệp. Thiết lập một cổng kiểm soát kê đơn kháng sinh để tránh lạm dụng
bừa bãi hay xây dựng hệ thống giám sát cảnh báo kháng thuốc sắp xảy
ra...
Nhưng rồi đó là những điều quá to lớn và cần một nguồn tài trợ không
hề nhỏ. Tại sao chúng ta không bắt đầu bằng những hành động của từng cá
nhân?
Cập nhật: 24/12/2016
THEO GENK