Thứ Năm, 2 tháng 1, 2014

WATER LIFE (2008)

Water Life (2008)
Water Life (2008)
Nội dung:
01.A World of Water – Thế giới nước
02.Where Water is Born – Cội Nguồn Của Nước
03.Water’s Pulse – Nhịp Đập Của Nước
04.Uncertain.Water – Tính Thất Thường Của Nước
05.The Big Blue -Đại Dương Xanh
06.Under the Sea – Dưới Đáy Biển
07.The Underwater City -Thành Phố Dưới Nước
08.The Frontier of the Sea – Ranh Giới Của Biển
09.On The Seaside -Trên Bờ Biển
10.The Wandering Water -Sự Vận Động Của Nước
11.The Quiet Flow – Dòng Nước Êm Đềm
12.Protective Water – Sự Bảo Vệ Của Nước
13.Fleeting Water – Nguồn Nước Thoảng Qua
14.Jungle Water – Nước Của Rừng
[tab name='720p']
Water Life (2008) 720p BluRay x264-HDxT (14 Tập đã mux sẵn phụ đề Việt)
[/tab]
[end_tabset]

  • 01
  • 01.A.World.of.Water.720p.BluRay.x264-HDxT.KhoHD.mkv
    1.5 GB
  • MỘT SỐ PHẦN MỀM DÀNH CHO AUDIOPHILE

    Hầu hết những người chơi audiophile hiện nay đều thuộc dạng "thanh niên nghiêm túc". Và để nghiêm túc hơn nữa, chúng ta thường sử dụng các bộ phần mềm nhằm hỗ trợ cho thú chơi đầy khoa học này.

    Dưới đây HDvietnam xin giới thiệu đến các bạn một số phần mềm miễn phí, được phát triển dành cho audiophile - những người đam mê âm thanh đến cuồng nhiệt.



    1. Exact Audio Copy (miễn phí)



    Exact Audio Copy, hay EAC, là một phầm mềm khá nổi tiếng dùng để rip (trích xuất), copy (sao chép) và burn (ghi) đĩa CD. Đúng như tên gọi, mục tiêu của nó là cho phép người dùng trích xuất âm thanh từ đĩa CD mà không làm biến dạng tín hiệu gốc.

    EAC có khả năng loại bỏ jitter thông qua cơ chế dò tìm và sửa lỗi (error detection and correction). Thông thường, khi trích xuất dữ liệu ở chế độ đảm bảo (secure mode), phần mềm này đọc các bit tín hiệu âm thanh ít nhất là 2 lần, và đó là lý do mà nó xử lý chậm hơn nhiều phần mềm rip CD khác.

    Nếu lỗi xảy ra trong quá trình đọc hoặc đồng bộ, phần mềm sẽ cố gắng đọc nhiều lần sector (cung đĩa) bị lỗi này. Trong những trường hợp rất tệ, EAC có thể sẽ đọc lại sector 82 lần, và so sánh dữ liệu của các lần đọc lại đó nhằm tìm ra kết quả tốt nhất.

    Trong thường hợp dữ liệu nhận được chỉ có 99,5% của dòng dữ liệu (bitstream) là chính xác thì phần mềm này sẽ đưa ra một cảnh báo.

    Ngoài cơ chế hoạt động chính xác ở trên, EAC còn cho phép người dùng tùy biến và quản lý thông tin một cách dễ dàng.


    >> Xem thêm:
    Hướng dẫn sử dụng EAC (Exact Audio Copy) để BURN/RIP AudioCD

    >> Download:
    http://www.exactaudiocopy.de/




    2. TT Dynamic Range Meter (miễn phí)

    Chiến tranh âm lượng diễn ra âm thầm nhưng lại tàn phá ngành công nghiệp âm thanh chất lượng cao trong nhiều năm qua. Điều tệ hại là audiophile không thể ngăn cản được xu hướng này, thay vào đó, họ chỉ có lựa chọn duy nhất là... phòng tránh.

    Pleasurize Music Foundation đã tạo ra TT Dynamic Range Meter, và nếu đang muốn kiểm tra dải động (dynamic range) của một bản nhạc nào đó, đây là thứ bạn cần tìm. Đặc biệt, ngoài việc kiểm tra, phần mềm này còn cho phép bạn so sánh các phiên bản khác nhau của album, để xem phiên bản nào có dải động rộng hơn.

    Việc sử dụng và kiểm soát TT Dynamic Range Meter là vô cùng dễ dàng. Bạn chỉ cần chọn một bài hát hoặc một thư mục muốn phân tích, và click chuột. Tất nhiên, chúng ta sẽ phải chờ đợi một vài giây để các thuật toán được xử lý.

    Ngoài ra, trong quá trình sử dụng, TT Dynamic Range Meter cũng tạo ra file log để giúp cho người dùng dễ dàng truy xuất thông tin hơn trong các lần kiểm tra sau.



    Theo trang web phát triển, một DR ở mức 7 là THẤP đối với các bản nhạc rock hoặc là RẤT THẤP cho các bản nhạc jazz. Tuy nhiên, một DR4 lại được xem là tạm chấp nhận được cho nhạc electronic.

    Trong trường hợp bạn muốn một tín hiệu chất lượng với độ động cao (độ động - dynamic), DR nên đạt ở mức 12.

    Điểm thú vị là TT Dynamic Range Meter có 2 phiên bản khác nhau. Trong đó co 1 phiên bản offline hoạt động độc lập và một phiên bản dạng component cho foobar2000.

    Và nếu bạn đang tự hỏi foobar là cái quái gì? thì topic này chắc sẽ hữu dụng hơn chăng.

    Ngoài ra, nếu bạn ủng hộ TT Dynamic Range Meter thì có thể
    ký tên vào chiến dịch kêu gọi chấm dứt chiến tranh âm lượng mà các nhà phát triển của phần mềm này đưa ra.


    >> Download phiên bản offline: www.dynamicrange.de

    >> Download phiên bản componet cho foobar2000:
    www.dynamicrange.de

    >> Tìm hiểu về chiến tranh âm lượng:
    Loudness War đã giết chết âm nhạc của tôi như thế nào?




    3. Room EQ Wizard (miễn phí)



    Room EQ Wizard, hay REW, là một trong những phần mềm đo lường hệ thống loa và phòng nghe khá tốt cho home theater. Các tính năng nổi bật bao gồm đo SPL (sound pressure level - mức thanh áp), RTA (Real Time Analyser - phân tích trong thời gian thực), waterfall plot (biểu đồ dạng thác) và ảnh phổ (spectrogram)...

    REW cho phép bạn tìm ra vị trí tốt nhất để đặt loa, vị trí tốt nhất để nghe và phương pháp cải thiện âm học. Tuy nhiên, nếu mới sử dụng và chưa có kiến thức tốt về âm thanh, phần mềm này hơi khó sử dụng. Và nếu ở trong trường hợp đó, bạn có thể nhờ vào sự trợ giúp của trang hỗ trợ trực tuyến của các nhà phát triển.

    Như đã nói ở trên, REW khó sử dụng cho những người mới bắt đầu, tuy nhiên nó là một công cụ linh hoạt và mạnh mẽ. Ngoài ra, độ chính xác của kết quả cũng phụ thuộc vào chất lượng của thiết bị đo. Thông thường, bạn sẽ cần tới một micro, dây cáp khá dài, một chiếc tripod (cho chuyên nghiệp ) và một soundcard rời. Thậm chí nếu muốn “nguy hiểm” hơn , bạn sẽ cần tới thứ đại loại như Nady SMPS-1X để cấp nguồn thêm cho mic.

    Cuối cùng, bạn có thể phải chi khá nhiều thời gian để nghiên cứu, lắp đặt và tiến hành đo đạc. Bù lại, bạn có thêm nhiều kinh nghiệm hơn, và trong nhiều trường hợp - âm thanh nhận được sẽ tốt hơn.


    >> Download: www.hometheatershack.com

    >> Thiết bị liên quan (tùy chọn):
    Omnimic, XTZ…




    4. Harman How to Listen (miễn phí)

    Úi giời, gì chứ nghe thì vô cùng đơn giản. Bật loa lên thật to, treble xoèn xoẹt, bass rung rinh nhà cửa… và thưởng thức.

    Tất nhiên, khái niệm đó không bao giờ tồn tại suy nghĩ của hầu hết audiophile. Bởi đối với họ, nghe là một hành trình khám phá.

    Harman How to Listen là một trong rất ít phần mềm dùng để cải thiện kỹ năng “lắng nghe” của bạn. Ban đầu, nó được phát triển để đào tạo cho nhân viên của Harman, nhưng sau đó lại được phát hành miễn phí cho tất cả mọi người.

    Về kỹ thuật, phần mềm Harman How to Listen vẫn đang ở giai đoạn beta (thử nghiệm). Và bạn cũng đừng mong gì thêm, bởi nó đã tồn tai như thế được vài năm.



    Phần mềm này đưa ra một số bản nhạc đã được để người dùng nghe. Ví du ở trên chúng ta thấy một bài tập Band ID ở mức rất căn bản. Người dùng có thể chuyển đổi giữa phiên bản “phẳng” (flat) của bài hát và phiên bản đã được EQ. Mục đích của bài tập này là giúp người dùng phân biệt được kiểu EQ của bài hát.

    Độ khó của các bài tập được Harman How to Listen nâng lên dần dần, và có nhiều vấn đề sẽ được đưa ra như reverb, coloration hay noise. Do đó, nếu bạn cảm thấy quá khô khan và mệt mỏi thì có thể tải một bài hát yêu thích và bắt đầu học từ đó.


    >> Download: harmanhowtolisten.blogspot.com



    5. Audio DiffMaker (miễn phí)

    Bạn nâng cấp một vài thiết bị trong hệ thống của mình và tự hỏi liệu âm thanh có thực sự thay đổi? Bạn mua một sợi cáp nguồn trị giá ngàn đô và bạn muốn biết liệu có hay không sự khác biệt về mặt âm thanh?

    Thật khó để trả lời cho những câu hỏi trên. Tuy nhiên, với Audio DiffMaker thì mọi thứ trở nên đơn giản hơn nhiều. Bởi đó mục đích của các nhà phát triển.

    Bạn sử dụng micro để thu lại một bản nhạc tham chiếu được phát trên từng thiết lập của hệ thống. Sau đó dùng Audio DiffMaker để so sánh các bài hát được thu lại này. Phần mềm sẽ so sánh và chiết xuất thông tin để cho ra sự khác biệt.



    Tất nhiên, để làm được công việc “kinh hoàng” trên, các nhà phát triển đến từ Liberty Instruments đã làm rất nhiều công việc nhằm đảm bảo độ chính xác của kết quả. Ví dụ, một thuật toán sẽ theo dõi sample rate và level, sau đó tìm ra những điểm khác biệt giữa 2 bản ghì âm.

    Lưu ý là Audio DiffMaker không yêu cầu hệ thống của bạn phải tuyến tính hoặc phải luôn phát ở chất lượng cao nhất, bởi thiết kế của nó xác định điểm tham chiếu ngay trên hệ thống và đưa ra các so sánh. Tất nhiên, để hoạt động tốt thì 2 bản ghi âm dùng để so sánh phải được thực hiện cản thận để cô lập các biến số.

    Tất nhiên, Audio DiffMaker vẫn không thể vượt qua đôi tai, cảm giác và yếu tố cá nhân của người nghe. Nhưng với những hệ thống nho nhỏ hoặc các dự án DIY, thì nó lại khá thú vị để xem liệu có thứ gì khác biệt hay không.


    >> Download: www.libinst.com


    http://www.hdvietnam.com/diendan/61-thiet-bi-am-thanh/759473-mot-so-phan-mem-danh-cho.html

    Ace Of Base - Collection

    Ace of Base là một ban nhạc pop đến từ thành phố Gothenburg, Thụy Điển. Thành viên bao gồm Ulf "Buddha" Ekberg cùng ba anh chị em, Jonas "Joker" Berggren, Malin "Linn" Berggren và Jenny Berggren. Họ đã phát hành bốn studio album từ năm 1993 và 2002 và bán được hơn 30 triệu bản trên toàn thế giới.
    Happy Nation/The Sign là một trong những album đầu tay bán chạy nhất mọi thời đại, được chứng nhận đĩa bạch kim chín lần ở Hoa Kỳ. Ba ca khúc trong album này đã từng giành vị trí hạng 1 đĩa đơn trên bảng xếp hạng Billboard: All that she wants, The Sign và Don't turn around.
    Năm 2007, ca sĩ Linn chính thức rời khỏi ban nhạc. Ban nhạc gồm 3 thành viên còn lại vẫn tiếp tục tổ chức những show lưu diễn ở châu Âu và châu Á từ năm 2007 đến hết năm 2009 trước khi Jenny tiết lộ trong tháng 11 năm 2009 là cô sẽ nghỉ tham gia ban vô thời hạn để tập trung cho sự nghiệp đơn ca của mình. Jonas và Ulf sau đó đã tuyển dụng hai nữ ca sĩ mới là Clara Hagman và Julia Williamson. Album đầu tiên của họ là The Golden Ratio được phát hành vào tháng 9 năm 2010.

    CÁC NHÀ SẢN XUẤT LOA CÓ CÒN SẢN XUẤT... CỦ LOA?

    Củ loa (driver) được xem là linh hồn của loa. Cũng chính vì thế mà nhiều "thượng đế" hiện nay rất quan tâm đến vấn đề này. Và khi được sở hữu một cặp loa mà driver bên trong được chế tạo bởi chính nhà sản xuất loa, chủ nhân ắt hẳn sẽ rất tự hào.

    Nhưng, liệu các nhà sản xuất loa có còn chế tạo driver cho loa của họ nữa không?


    Dây chuyến sản xuất driver cho loa của một hãng gia công.


    Có một thực tế phổ biến là các hãng chế tạo loa chuyên nghiệp hiện nay đều có thể lựa chọn thoải mái giữa việc chế tạo hoặc đặt hàng củ loa theo yêu cầu thiết kế riêng của mình. Điều này không có nghĩa là các nhà chế tạo loa không biết cách chế tạo củ loa, mà đơn giản là họ muốn tối ưu hóa dây chuyền sản xuất và nhân lực.

    Nếu như trước đây, việc chế tạo củ loa là công việc gần như bắt buộc, thì hiện tại rất hiếm các thương hiệu loa của Mỹ, Canada hoặc Đức vẫn còn chế tạo củ loa ngay trong khuôn viên nhà máy. Và sẽ không quá khoa trương khi phát biểu rằng: câu chuyện chế tạo củ loa của các hãng sản xuất loa gần như không tồn tại nữa.

    Tất nhiên, điều ngược lại vẫn xảy ra. Rất nhiều thương hiệu nổi tiếng vẫn đang duy trì công việc chế tạo củ loa, và lắp ráp vào thùng loa ngay tại nhà máy của mình. Thậm chí một số hãng còn có nhà máy chế tạo thùng loa, và họ có thể làm tất cả mọi thứ, từ thiết kế và chế tạo củ loa, cho tới lắp ráp và thử nghiệm chúng ngay trong cùng một dây chuyền nhà máy.


    1950 - 1970

    Năng lực chế tạo thùng loa của các hãng có thể khác nhau. Tuy nhiên, những thương hiệu như AR, KLH, Klipsch, JBL, EPI, Allison, Boston Acoustics, KEF, B&W… đều có khả năng thiết kế và chế tạo củ loa ngay tại nhà máy của họ.

    Trong số những cái tên ở trên, AR (Acoustic Research) là một thương hiệu khá danh tiếng với củ loa có hiệu suất được nhiều người ngưỡng mộ. Họ là hãng đã phát minh ra dome driver, và thiết kế "suspension woofer" cho loa siêu trầm mà nhiều người vẫn đang sử dụng (kiểu thùng loa kín). Ngoài ra, năm 1958, AR còn gây tiếng vang lớn khi cho ra mắt củ loa midrange dome và tweeter dome đầu tiên trên thế giới, với độ tinh tế và chính xác vượt xa so với các nhà sản xuất thời đó.

    Hầu hết các sản phẩm của AR đều được sản xuất thủ công bằng tay, và đó là thứ đã giết chết thương hieuj này. Các dây chuyền sản xuất tự động trong thập kỷ 80 và 90 khiến cho quy trình sản xuất của AR trở nên chậm chạp và không thể theo kịp. Kích thước nhỏ của các linh kiện và yêu cầu đảm bảo độ dung sai khiến cho nhà sản xuất này chỉ tạo ra được rất ít thành phẩm. Thậm chí, AR không ngần ngại "khoe khoang" chiến tích của những củ loa không đạt yêu cầu ở trong các mẫu quảng cáo. Điều này giúp chứng minh được tiêu chuẩn chất lượng khắt khe, nhưng cũng phơi bày lộ liễu yếu điểm không thể khắc phục trong kỷ nguyên công nghiệp hóa.


    Những củ loa không đạt yêu cầu của AR bị cho vào thùng rác.


    Trong những năm 50 và 60, thậm chí là đầu những năm 70, hầu hết hãng đều chế tạo củ loa theo cùng một phương pháp, với cùng một kiểu thiết kế, và tất nhiên - cùng một loại chất liệu.

    Nón loa woofer được ép từ bột gỗ, sau đó được gọt nhọn và tạo hình. Còn cuộn âm và mạch phân tần thường được hàn bằng tay. Một số thông tin còn nói rằng AR sở hữu một đội ngũ công nhân là phụ nữ rất chuyên nghiệp và lành nghề. Kỹ năng lắp ráp của họ khiến cho củ loa AR gần như không thay đổi trong vòng 20 năm - và được quảng cáo là nhanh và chính xác hơn so với củ loa nào được chế tạo từ dây chuyền tự động.

    Đó là điều tuyệt vời. Tuy nhiên, khi công nghệ trở nên vượt trội, bàn tay con người sẽ trở nên lạc hậu và kiếm được ít lợi nhuận hơn.


    Công việc chế tạo củ loa của AR chủ yếu bằng tay.


    1970 - 2000

    Vào cuối những năm 1970, một số nhà sản xuất loa vẫn còn tự chế tạo củ loa, tuy nhiên, bản chất của công việc này đã chuyển từ "tự chế tạo" sang "lắp ráp".

    Một ví dụ điển hình là Boston Acoustics. Thực tế nhà sản xuất này chỉ tự tay chế tạo củ loa trong giai đoạn trước năm 1979, còn sau đó, họ chuyển sang lắp ráp cho đến những năm 1990 (hay đại loại như vây).

    Đầu tiên Boston Acoustics xây dựng một đội ngũ kỹ sư có "võ công cao cường" và một hệ thống máy tính + phần mềm SOTA tiên tiến nhất. Sau đó họ thiết kế các mô hình củ loa ảo, và chuyển cho các đối tác gia công. Các đối tác gia công này sẽ bắt tay vào chế tạo củ loa thật từ nguyên mẫu ảo, với các linh kiện đã có sẵn ở trong kho (đủ loại như cone, dome, nam châm, cuộn âm, xương…. với mọi kích thước và hình dáng mà họ đã tưởng tượng ra cho củ loa). Hoặc nếu cần thiết, họ sẽ chế tạo một số linh kiện theo số đo riêng của nhà sản xuất loa để hoàn thiện nguyên mẫu mà mình nhận được.

    Nói tóm lại các kỹ sư có thể yêu cầu bất kỳ thứ gì từ đối tác gia công. Và một khi đã hài lòng với hiệu suất, cũng như cân bằng được chi phí sản xuất, củ loa sẽ được lắp ráp đại trà tại nhà máy của Boston Acoutics.

    Cái gì?.... lắp... r á p ư?

    Vâng, chính xác. Boston Acoustics nhận một loạt các linh kiện nhỏ từ các đối tác gia công như cone từ đối tác thứ nhất, nam châm từ đối tác thứ hai, spider từ đối tác thứ 3, và cuộn âm, vỏ… từ nhiều đối tác khác nhau. Công việc của hãng chỉ là lắp ráp mọi thứ lại với nhau thông qua một dây chuyền có khả năng tự động hóa rất cao, và cho ra các thành phẩm trong thời gian nhanh nhất có thể.

    Từ đầu đến cuối dây chuyền, một woofer hoàn chỉnh có thể được lắp ráp trong vòng 5 phút. Trong đó, nó phải đi qua 1 phòng sấy để làm khô keo và một phòng kiểm định để xác nhận đủ tiêu chuẩn.

    Các công nhân sau đó sẽ đặt các woofer hoàn thiện trên dàn và lưu giữ trong khu vực lưu giữ phụ tùng để chế tạo loa. Dung sai của các thành phẩm này luôn ở trong tầm +/- 1 dB và rất ít khi bị loại do lỗi. Cũng chính vì thế mà chi phí chế tạo trong dây chuyền luôn được tối ưu hóa. Tất cả mọi thứ đều được chuyên môn hóa, và quá trình lắp ráp woofer diễn ra vô cùng chính xác.


    Woofer với thiết kế rất phức tạp của Boston Acoustics.


    Với dòng tweeter thì Boston Acoustics còn tỏ ra ấn tượng hơn với công việc chế tạo bí mật không kém gì những dự án quan trọng của quân đội.

    Bostion Acoustics rất chuyên nghiệp, rất tiên tiến và rất bí mật. Họ không cho phép khách tham quan nhà máy chụp hình dây chuyền sản xuất tweeter, và chúng hầu như chưa từng xuất hiện một cách chi tiết trên sách vở. Các dây chuyền sản xuất này không chỉ được tự động hóa cao, mà còn có khả năng tự chẩn đoán lỗi rất chính xác. Khi củ loa ra khỏi dây chuyền lắp ráp, máy tính sẽ thông báo cho người quản lý các tweeter được lắp ráp "thành công" hoặc "thất bại". Thậm chí nó sẽ cung cấp nguyên nhân thất bại như do quá nhiều keo, độ nhạy không đạt hay keo chưa đủ khả năng kết dính…. Đặc biệt, tất cả những tweeter không đạt đã được phân tích sẽ tự động quay lại dây chuyền để khắc phục - nếu có thể.

    Kết quả, tweeter hoàn thiện gần như không có lỗi nào với dung sai +/- 1 dB trong khoảng 2000-20 kHz.

    Ngay cả khi chuyển dây chuyền sản xuất loa sang Trung Quốc, Boston Acoustics vẫn kiên quyết chế tạo củ loa tại quê nhà và chuyển qua cho đối tác để gắn vào thùng loa. Mặc dù giải pháp này rất tốn kém, nhưng điều quan trọng là họ sẽ không bao giờ mất hết mọi thứ!

    Tất nhiên, những câu chuyện thú vị đó chỉ xảy ra trong cuối thế kỷ 20.


    2000….

    Ngày nay, rất hiếm các thương hiệu của Mỹ, Canada, Anh hay Đức vẫn còn duy trì dây chuyền sản xuất củ loa. Thậm chí họ còn không lắp ráp chúng ở trong nhà máy của mình nữa.

    Công việc chính của các kỹ sư đó là thiết kế và sau đó giao lại nguyên mẫu ảo để đối tác chế tạo độc quyền.

    Tất nhiên, ở đây không phải chúng ta đang bôi nhọ chu trình thiết kế đó của các nhà sản xuất, và chúng ta cũng không có quyền làm điều đó. Các kỹ sư hiện nay có thể thiết kế và xây dựng các mô hình ảo rất tốt. Nhiều nhà sản xuất còn có thêm khả năng đo đạc và kiểm định hoàn hảo. Do đó, chất lượng của các củ loa vẫn được đảm bảo cho thiết kế tổng thể của loa.

    Một trong những nguyên nhân khiến các nhà sản xuất loa không còn mặn mà với công việc chế tạo củ loa đó là chi phí. Và họ luôn chọn giải pháp đơn giản, ít tốn kém nhất để tồn tại.


    Tiếp thị

    Ok, vấn đề chi phí thì có thể chấp nhận được, nhưng có một vấn đề khác hơi khó chấp nhận, đó là các kỹ sư hiện nay thường thiết kế củ loa dưới góc nhìn tiếp thị.

    Thay vì tập trung vào những thứ thực sự cần thiết, mục đích thiết kế củ loa hiện nay đó là phải có cái gì mới so với các củ loa trên các sản phẩm cũ, nhằm thu hút người dùng.

    Đầu tiên, phòng tiếp thị của hãng yêu cầu phòng thiết kế tạo ra một mẫu bookshelf không lớn hơn 17.000 centimet khối với chiều sâu không quá 30,5 cm để phù hợp với chiến dịch quảng cáo và bán hàng. Phòng tiếp thị cũng nhận thấy rằng loa của đối thủ cạnh tranh trực tiếp được bán với giá chỉ 100 USD và có dung sai không thấp hơn -3dB ở 55 Hz. Do đó họ nói với tay kỹ sư trưởng: "Hãy thiết kế một loa bookshelf với -3dB ở 45 Hz, để chúng tôi có thể khoe khoang về sự khác biệt về âm thanh một cách hợp pháp. Và không cần chế tạo công suất quá lớn với độ nhạy nên là 86 dB 2.83 V tại 1M. Chúng ta không cần sử dụng một nam châm đắt tiền. Và anh sẽ phải làm sao đó để 6 tháng nữa sẽ có những nguyên mẫu thử nghiệm đầu tiên".

    Sau khi nghiên cứu, nhóm kỹ sư nhận ra rằng cần một mẫu woofer mới. Do đó, họ bắt tay vào tối ưu hóa các thiết kế một cách cẩn thẩn để tạo ra một công suất ấn tượng với độ nhạy 86 dB và thích hợp cho một thùng loa nhỏ.

    Tuyệt vời, thiết kế cuối cùng cũng đã hoàn thành, và công việc bây giờ của các kỹ sư là gửi yêu cầu cho các đối tác gia công ở nước ngoài. Tuy nhiên, sau một thời gian chờ đời, những gì họ nhận được luôn gây bất ngờ - tức là các củ loa hoạt động không đúng như mong muốn.

    3 nguyên mẫu loa được đưa vào phòng thí nghiệm sau 6 tuần. Chúng được làm qua loa. FAR quá cao. Mạch VC quá lớn. Nam châm quá cồng kềnh. FR tăng đột biến lên 6dB tại 1500Hz vì phản xạ góc. Có vẻ như các đối tác gia công không thèm đếm xỉa đến những khía cạnh thiết kế tỉ mỉ mà hãng loa Mỹ đã gửi, và có vẻ như họ chỉ làm một công việc duy nhất đó là gửi một vài mẫu woofer đã có sẵn.

    Tất nhiên, đó là những gì mà các hãng gia công phải làm.

    Nhiều hãng gia công củ loa - thậm chí là thương hiệu nổi tiếng - thường có sở thích làm việc theo phong cách "đơn giản" như thế này. Thậm chí họ cố gắng làm nhiều lần.

    Nếu hãng loa của Mỹ cảm thấy nguyên mẫu nhận được là “đủ xài” - bằng cách thay đổi bộ phân tần hoặc một số chi tiết thiết kế khác, nhà cung cấp củ loa sẽ sản xuất đại trà.

    Tuy nhiên, nếu hãng loa của Mỹ không thể sử dụng được nguyên mẫu đó, hãng gia công sẽ bắt tay lại từ đầu theo đúng thiết kế. (Tất nhiên, một số lý do sẽ được đưa ra để biện họ cho sai sót, điển hình nhất là bất đồng ngôn ngữ. Nhân viên hãng gia công đột nhiên không hiểu tiếng Anh nếu gặp một vấn đề kỹ thuật gì đó hơi khó khăn hoặc mất nhiều thời gian…. Nhưng khi đọc hóa đơn tính tiền thì lại "hót như gió".)

    Cuối cùng, sau những sóng gió thì nguyên mẫu woofer cuối cùng cũng đã hoàn thiện như ý muốn. Chúng hoàn hảo, tuyệt diệu và độc đáo.

    Các kỹ sư của hãng loa vô cùng phấn khích vì đã nhận ra con đường để hoàn thiện dự án đang còn dang dở. Và để kỷ niệm khoảnh khắc đáng nhớ đó, 2 đối tác thực hiện một thỏa thuận, coi củ loa đó là tải sản độc quyền và hãng gia công sẽ không được chế tạo một thứ tương tự cho bất kỳ ai.

    Tuy nhiên, nhân viên của hãng gia công bắt đầu "õng ẹo" rằng thiết kế kế này rất khó để thực hiện, nên họ sẽ tăng chi phí chế tạo lên thêm 30% so với giá đưa ra lúc đầu. Giá lúc đầu tức là giá dự kiến của những nguyên mẫu đầu tiên mà hãng loa của Mỹ không sử dụng được.

    CHÀO MỪNG BẠN ĐẾN VỚI THẾ GIỚI CỦA "PHÁT TRIỂN" CÔNG NGHỆ.

    Bản chất của thế giới này là ăn và ăn.

    Hãng gia công sẽ "tọng" vào túi một mớ chi phí và điều đặc biệt là chi phí này không để làm cho sản phẩm trở nên tốt hơn.

    Sau khi chịu thêm một khoản tiền "nho nhỏ", cuối cùng thì hãng loa cũng nhận được thứ cần thiết. Và họ bắt đầu có quyền được vỗ ngực phát biểu, rằng "Ê, củ loa này là của chúng tôi đấy nhé!"

    Đó cũng là cách mà “củ loa của chúng tôi” được nhiều các hãng sản xuất loa sử dụng rộng rãi trong hoạt động tiếp thị hiện nay.


    Thỏa thuận quan trọng nhất giữa hãng loa và hãng gia công củ loa đó là không được chế tạo hoặc bán củ loa độc quyền cho bất kỳ ai khác. Tuy nhiên liệu thỏa thuận này có được thực hiện trong thực tế?

    Có, thỏa thuận này vẫn được thực hiện, miễn là hãng loa đồng ý mua ÍT NHẤT XX HOẶC XXXXX củ loa mỗi năm. Còn nếu hãng loa không mua hết - dù chỉ là 1 củ loa - thì ngay lập tức, chúng sẽ có mặt ở trong các cửa hàng bán đồ âm thanh hoặc trên các trang web.

    Tất nhiên, với thứ mặt hàng hấp dẫn và dễ tiêu thụ này, hãng gia công sẽ làm mọi cách để tuồn củ loa ra ngoài nhằm trục lợi. Họ đã đầu tư rất nhiều thời gian và chuyên môn vào để phát triển các phương pháp chế tạo và dây chuyền sản xuất. Và để khấu hao chi phí, họ phải căn cứ vào việc bán được XX hoặc XXXXX củ loa chứ!

    Nếu hãng loa không mua đủ số lượng đó, hãng gia công củ loa sẽ bán chúng ở một nơi khác. Dayton Audio là một ví dụ điển hình.


    Tweeter do Dayton chế tạo cho khách hàng.


    Thông thường, hãng gia công củ loa sẽ thay đổi nhẹ nhàng thiết kế "độc quyền" - đủ để "giữ cánh cửa luôn mở" cho đối tác ban đầu - và đủ để đối tác mới "lên hương". Các đối tác từ Mỹ, Canada hoặc Anh sẽ nhận được củ loa độc quyền, còn các đối tác mới nổi ở Trung Quốc (và đôi khi cả Việt Nam) sẽ nhận được củ loa "gần giống" với củ loa độc quyền.

    Tweeter Dayton là một trường hợp như thế: sở hữu thiết kế và thông số đủ để quyến rũ các tên tuổi lớn trong làng âm thanh, nhưng đủ khác để đối tác ban đầu phải công nhận rằng họ vẫn đang ở trong vòng bảo vệ "độc quyền". Tất nhiên đây chỉ là một trong rất nhiều vở kịch đang diễn ra ở sau hậu trường ngành công nghiệp âm thanh.

    Thiết kế nguyên bản, trải qua 6 vòng prototype, nhận feedback, và cố gắng cải tiến cho đến khi hoàn hảo - đó là một chu trình hoàn toàn hợp pháp và không có gì đáng xấu hổ - mà các hãng loa đến từ Mỹ, Canada hoặc Anh đang thực hiện để tạo ra những củ loa "độc đáo" của riêng họ. Thậm chí là độc quyền của họ.

    Tất nhiên, ở đâu đó ngoài kia, với một nồng độ thấp hơn là các hãng loa với các củ loa do chính họ chế tạo. Và vấn đề là ở chỗ: một số thì rất hoàn hảo nhưng một số lại tệ hại….

    Trong khi đó, các hãng gia công củ loa có một số lượng tồn kho rất lớn các bộ phận có thể được tùy chỉnh theo bất kỳ thiết kế nào của đối tác. Rất nhiều lần, một hãng loa đến nhà cung cấp củ loa của họ và tuyên bố: "làm cho anh một củ loa với dome màu hồng nhé!"

    Nhà cung cấp củ loa sẽ làm y nguyên lời nói đó, họ sẽ đúc một nón loa màu hồng với chất liệu và thiết kế y chang nón loa màu đen hay màu vàng. Vàmặc dù trông thì giống nhau đấy, nhưng chi phí và khẩu hiệu sẽ hoàn toàn khác nhau.

    "Tweeter độc quyền của chúng tôi được tùy chỉnh bởi đội ngũ kỹ sư tại gia. Với dome làm bằng chất liệu kim loại màu hồng nhưng vẫn giữ được kết cấu mềm mại của dome lụa. Kết quả là âm thanh sẽ trở nên tinh tế, chi tiết và đầy màu sắc mà bạn sẽ không thể tìm thấy ở những chất liệu tương tự."

    Thật tuyệt vời. Quảng cáo nghe sướng làm sao. "Tweeter độc quyền của chúng tôi”.


    Kết luận

    Như bạn thấy đấy, khái niệm “củ loa của chúng tôi” đã thay đổi hoàn toàn bản chất trong hàng chục năm qua. Đôi khi bạn sở hữu được một cặp loa mà củ loa được chế tạo bởi chính hãng loa đó, nhưng đôi khi bạn lại sở hữu được một cặp loa mà củ loa của nó được gia công bởi hãng thứ 3.

    Dù sao đi nữa, điều đó không quan trọng, bởi chất lượng âm thanh sẽ phụ thuộc vào kỹ năng và tầm nhìn của các kỹ sư - mà không phân biệt xuất xứ. Ngoài ra, cũng không có gì sai hay xấu khi các thương hiệu loa lớn của thế giới sử dụng củ loa của một hãng gia công nào đó.

    http://www.hdvietnam.com/diendan/61-thiet-bi-am-thanh/757551-cac-nha-san-xuat-loa-co.html

    Chủ Nhật, 29 tháng 12, 2013

    [FSHARE] NATIONAL GEOGRAPHIC WILD SPEED KILLS SEASON 01 (2013) 1080P HDTV MPEG4-ISCOL



    About the show:
    Brace yourself for a high-speed adventure through rainforests, savannahs and watery underworlds as we track the minuscule movements and killer features of the animal kingdom's fastest predators.

    Episode 1: Ocean
    Life happens at alarming speeds in the churning, seemingly slow-moving ocean. Stonefish strike at jaw-dropping speeds and mantis shrimp throw the fastest punch in the animal kingdom.


    Episode 2: Savannah
    Some of the Serengeti’s animals are built for explosive sprints, others for marathon runs. But all of them need to move fast in order to survive in this unforgiving environment.


    Episode 3: Jungle
    Enter the lush and shadowy jungles, where baboons rule the day, leopards own the trees, and African Goshawks reign over the skies. This is one high-speed trek you don't want to miss.





    download | 3/3                 Sub 

    http://ebookforchildren-baby.blogspot.com/2013/12/fshare-national-geographic-wild-speed.html